Chương tám:
Nội dung Phật Pháp của Phật Giáo
Hòa Hảo.
Huỳnh Phú Sổ đã giảng dạy cho tín đồ
một nội dung Phật pháp rất gần rủi, rất trung thực, đến độ
phải nói là thống nhất và hợp nhất, với Phật giáo nguyên thủy
mà đức Phật đã
giảng dạy cho các đệ tử xuất gia và tại gia của Ngài.
đó là con đường
trung đạo, tam nghiệp, tứ diệu đế, tự vô lượng tâm, tứ ân, ngũ
giới, lục độ, bát chánh đạo, thập thiện, thập nhị nhân duyên.
Ðây cũng là nền tảng giáo lý và nội dung Phật pháp của PGHH.
đạo
Phật là đạo giác ngộ, chủ đích của đạo Phật không gì khác hơn
là đưa con người từ cõi mê mờ, đau khổ, đến cõi giác ngộ, an
lạc. Và đức
Phật, có nghĩa là đấng giác ngộ, đã vì lòng từ bi lân mẫn,
thương xót chúng sanh mà chuyển pháp luân đánh thức người mê,
khai ngộ cho tất cả mọi người đều được giác ngộ như chính
đức Phật. Trong
bài thơ Chuyển Pháp Luân, Huỳnh Phú Sổ đã trình bày rõ chủ
đích của đạo Phật, đồng thời cũng là sứ mạng của chính
ông:
"Lòng thương lê
thứ đáo Ta Bà
Thừa chuyển pháp
luân dụng khuyến ca
Cảnh tỉnh người
mê về cõi ngộ
Dạy răn kẻ tục
vượt mê hà".
để
mở đầu, ông đã
giới thiệu cho tín đồ biết Phật là ai. Khác với sự thêm thắt,
huyền hoặc, tôn sùng sai lạc sau này, coi Phật như một đấng
thần linh, ông
đã đưa Phật trở về đúng con người thật mà chính Phật đã tự
giới thiệu khi Ngài còn tại thế: Ngài là một vị giác ngộ và là
một vị "thiên nhân sư" (Thầy của người và trời), nghĩa là một
vị đạo sư chỉ bày con đường và phương pháp giác ngộ cho chúng
sanh.
Trong bài "Phật Là Gì? ", Huỳnh Phú Sổ đã
viết như sau, trong năm 1942, khi
ông 23 tuổi:
"Phật giả là giác
giả (Người giác ngộ). Giác giả là Tỉnh giả (Người tỉnh thức).
Khi
đức Thích Ca
thành Phật thì Ngài nói pháp tứ dế mà độ đời trước hơn các
pháp, và chỉ con đường Trung
đạo cho người
hành theo.
đường
Trung đạo của
Phật:
1. Không trưởng
dưỡng xác thịt quá ư sung sướng như: ăn nhiều, ngủ nhiều,
chẳng lo làm công chuyện, chẳng học hỏi, vì sung sướng thái
quá thì sanh nhiều dục vọng mê đắm, làm cho trí đạo tối tăm,
không thể đạt huệ được.
2. Không nên hành
xác hay ép xác thái quá như: phơi nắng dầm sương, bỏ ăn, bỏ
ngủ, làm lụng quá sức lực của mình, vì ép xác quá độ hay sanh
bịnh hoạt nhiều, người mà đa mang bịnh tật rồi, tinh thần kém
cõi, nhọc mệt, trí hóa lu mờ, không đủ sức mà học
đạo đặng.
Nên người biết
đạo chẳng ép
xác thái quá, mà cũng chẳng để nó sung sướng quá độ, chỉ ăn
ngủ có chừng mực, làm việc vừa với sức mình, giữ gìn sức khỏe
mới mong được đạo
Pháp.
Vậy Phật chẳng
buộc ai phải ăn ở khổ hạnh và cũng chẳng biểu ai ăn ở sung
sướng, chẳng ép ai ăn chay, chẳng xúi ai ăn mặn, tùy theo
trình độ và lòng nhơn của mình.
điều cần yếu
là phải:
Làm Hết Các
Việc Thiện,
Tránh Tất Cả
điều độc ác,
Quyết Rửa Tấm
Lòng Cho Trong Sạch".
Nếu được nghe bài thuyết pháp này của một
thanh niên Việt Nam 23 tuổi nói về
đức Phật và con
đường Trung đạo,
gần 2.500 năm sau khi Phật nhập diệt, thì chắc
đức Phật cũng
rất hoan hỉ, vì nói rất gần gủi với những gì Phật đã nói và đi
vào được ý chính của vấn đề.
Sau bài Phật là gì? trên đây, Huỳnh Phú Sổ
viết tiếp bài "Chư Phật Có Bốn
đại
đức," giản dị,
ngắn gọn một cách phi thường và đi vào chủ đích, cốt tủy của
đạo Phật một cách rất bình thường, cũng như giảng dạy lý do và
mục đích của việc niệm Phật:
"Từ Bi Hỷ Xã
Chư Phật có bốn
đại đức. Vậy ta niệm danh hiệu Phật để nhớ Phật và rán sức làm
theo bốn đại đức của Phật đặng ngày sau chứng quả như Ngài.
Bốn đức ấy là:
1.
đức từ: Phật
đối với chúng sanh như mẹ với con, lúc nào cũng lo lắng đến,
hết lòng dìu dắt, dạy dỗ, không nở để chúng sanh sa vào đường
tội lỗi mà chịu khổ não.
2.
đức bi: Nếu
chúng sanh nào dạy dỗ chẳng nghe, làm điều độc ác để phải tội
thì Phật chẳng vì thế mà ghé bỏ, lại thương xót không cùng.
3.
đức hỉ: Thường
an vui mà làm những việc lành. Dầu gặp hoàn cảnh trái nghịch
cũng chẳng vì thế mà sanh lòng buồn bã.
4.
đức Xã: Ngài
chẳng chấp một pháp nào trong thế gian, sẵn lòng lìa xa các
nghiệp tiền trần, tha thứ hết thảy những ai tối tăm, lầm lỗi,
chẳng còn vướng vúi chi với cuộc danh lợi, tài sắc, nhìn cõi
đời chẳng sanh lòng luyến ái.
Vậy ta nên niệm
Phật, phải biết đại
đức của chư
Phật và làm sao cho ta đắc được bốn đức ấy.
Ta cũng nên bố
thí, nhẫn nhục, trì giới để độ tham, sân, si.
Còn phương pháp
niệm Phật là để trừ cái vọng niệm của chúng sanh, vì trong tâm
của chúng sanh niệm niệm mê lầm chẳng dứt, vì cái vọng niệm về
việc thế trần ấy mà không cho cõi lòng an lạc, phiền não ngăn
che, chơn tâm mờ ám. Nên hay, hễ thành tâm niệm Phật thì nếu
được một niệm Phật ắt lìa được một niệm chúng sanh, mà niệm
niệm Phật thì lìa tất cả niệm chúng sanh. Cho nên khi nhứt tâm
bất loạn, chừng ấy vọng niệm chúng sanh đã dứt thì lòng ham
muốn và các tình dục còn đâu mà nẩy sinh ra được?
Nên Niệm Phật
Là Niệm Cái Bản Lai Thanh Tịnh Của Phật Trong Lòng Của Mình
Nương Theo đó Mà được Thanh Tịnh Và Chẳng Còn Trược Nhiễm Trần
Ai.
Cần tu thập thiện
thì sự niệm mới có hiệu quả. Tu thập thiện, dứt được thập ác,
cũng gọi là tịnh tam nghiệp".
Một trong những người giảng Phật Pháp được
coi là trung thực, đầy đủ và hay nhất trên thế giới là
đại
đức Naraga Maha
Thera, tác giả The Buddha and His Teachings (đức
Phật và Phật Pháp), cũng không thể giảng về tứ vô lượng tâm và
ý nghĩa của việc niệm Phật dễ hiểu hơn, súc tích hơn.
Cái hay, cái sâu sắc và cũng là cái thực tế
của Huỳnh Phú Sổ là ông dạy niệm Phật nhưng nói rõ niệm Phật
không phải là niệm Phật Thích Ca hay Phật Di Lặc ở đâu đó
trong vũ trụ, đế tán dương, ca ngợi các Ngài, mà niệm cái bản
lai thanh tịnh, cái Phật tánh, của Phật, ngay trong tâm mình.
đồng thời, cũng
mặc nhiên nói rõ niệm Phật không có hiểu quả bao nhiêu nếu
không tu thập thiện, bỏ thập ác. Cũng như giảng về tứ vô lượng
tâm, ông cũng nói rõ là làm sao để mình có thể có được bốn đức
từ, bi, hỉ, xã đó và phải bố thí, trì giới để diệt tham, sân,
si.
Tu là diệt lòng tham, là sửa đổi tâm tánh,
ngôn ngữ, hành động của mình. Nhiều Phật tử, vì từ căn bản
không biết Phật là ai, cứ tưởng Phật là thần linh vạn năng,
rất thương chúng sanh nên cầu gì, xin gì là Phật đều cho, nên
tha hồ cầu xin, tha hồ phát triển lòng tham vô tận của mình,
hay vì không biết mục đích, ý nghĩa của việc niệm Phật, lạy
Phật, cứ tưởng niệm Phật, lạy Phật là được Phật thương, Phật
rước lên cõi Tây Phương Cực Lạc, chớ không lo làm lành, lánh
dữ, tu nhân tích đức và phát triển cái tâm thanh tịnh, an lạc
có sẵn trong lòng mình. Tu kiểu đó, và đây là cách tu của
không ít Phật tử, thì càng tu càng tham, càng khổ và càng đọa.
Không những giảng về Phật, sự niệm Phật,
Tam Bảo, Tứ Ấn, Tứ Vô Lượng Tâm, Huỳnh Phú Sổ còn giảng về Tam
Nghiệp và Thập Thiện một cách đầy đủ, chu đáo, vì đây là thuộc
phần luân lý, đạo đức xã hội hết sức căn bản và quan trọng của
người Phật tử.
Tam Nghiệp
Và Thập ác:
"Sanh ra ở đời,
con người dầu muốn hay dầu không, cũng phải chịu dưới sự chi
phối của định luật thiên nhiên.
định luật ấy
gồm vào một chữ đạo,
đạo của con người kêu bằng "đạo
nhân", và nó là
một con đường đi trúng thì sống, bước trật tất chết.
Muốn làm tròn
nhân
đạo, phải giữ
vẹn tứ
ân. Nhưng trước
hết hãy tránh Tam Nghiệp và chừa Thập
ác, cũng như
muốn làm giàu phải tránh đừng cho thiếu nợ.
Mỗi người đều có
ba nghiệp chướng sau đây:
Thân nghiệp:
tội lỗi do thân xác gây nên.
Khẩu nghiệp:
tội lỗi do miệng lưỡi gây nên.
ý nghiệp:
tội lỗi do ý tưởng gây nên.
Ba nghiệp chướng
ấy khiến con người phạm mười điều ác kể ra dưới đây:
Thân nghiệp
sanh 3 điều ác:
1/ Sát sanh
2/
đạo tặc
3/ Tà dâm
Khẩu nghiệp
sanh 4 điều ác:
1/ Lưỡng thiệt
2/
ỷ ngôn
3/
ác khẩu
4/ Vọng ngữ
ý nghiệp sanh
3 điều ác:
1/ Tham lam
2/ Sân nộ
3/ Si mê
1/ Sát Sanh:
Con
người mới sanh ra ở đời đều có tánh hiền lành cả. Song đến lúc
lớn khôn vì phải sống chung chạ với thế giới hung tàn, bạo
ngược, tánh nết liền ô nhiễm những sự xấu xa hèn kém, trở nên
độc ác dữ dằn.
Loài người giết
nhau vì tiền bạc, vì sắc đẹp, vì lợi danh, vì quyền thế, vì
thù hiềm, vì háo thắng... nghĩa là họ giết nhau vì sự lợi ích
của một người, cùa một nóm người, của một đẳng cấp xã hội, của
một quốc gia... đó
là người đối với người.
Người đối với thú
cầm sanh vật còn tàn nhẫn gấp mấy nữa: họ giết thú vật vì
miếng ăn, vì sự dị đoan mê tín,... sát hại sanh vật cúng tế...
vì sự vui thích... kẻ bắn chim đang bay trên trời, người chặt
cá đang lội dưới nước. Họ bắt thú vật làm tấm bia cho nhắm
trong những lúc cao hứng, quên hẳn rằng sanh vật cũng có linh
hồn, cũng có thân xác, cũng biết tìm lẽ sống còn như nhân loại
vậy... Khi gặp tai nạn bất ngờ hay rủi ro đau ốm, con người
không chịu thuốc thang, khẩn vái Phật Trời cầu cho tai qua nạn
khỏi, lại giết các thú vật tế thần cúng thánh, kêu cốt, kêu
đồng. Họ không chịu tìm nguyên nhân các sự họa hoạn, không
chịu tìm hiểu rằng những tai biến xẩy ra đều do căn tiền báo
quả hậu, và không chịu ăn năn chừa lỗi, tạo tác phước điền.
Trong khi giết các thú vật đặng tế lễ, họ đã phạm thêm một tội
ác lúc họ chưa đền bồi các tội ác trước được.
Thế nên hãy tha
thứ cho chúng, hãy dung dưỡng chúng và nhứt là đối với các gia
súc: trâu, bò, ngựa, chó, mèo... chẳng khá sát hại, vì chúng
đã giúp ích cho ta trong các việc sanh hoạt hàng ngày. Tóm
lại, không có sự sát sanh vô cớ nào có thể tha thứ được và
trong những ngày chay lạt hãy cử hẳn.
2/
đạo Tặc:
Câu "bần cùng sanh đạo tặc" cần phải là một câu chữa mình của
bọn bất lương vô đạo. Những kẻ này ngày vẫn vơ đầu đường xó
chợ, tối kiếm chỗ khoét vách đào tường, không làm muốn có ăn,
không lo muốn có mặc. Lớp người cặn bã của xã hội này, sống
ngoài vòng pháp luật, trốn nhủi trốn chui, phá rối an ninh của
dân chúng, chuyên lo giết người cướp của, đoạt giựt tài sản
lương dân, không nghĩ rằng phải tốn bao nhiêu giọt mồ hôi, bao
nhiêu giòng nước mắt mới làm ra được. Họ là giống sâu làm rầu
nồi canh, là tội nhân gây ra nhũng tai biến trong những gia
đình cần lao tiết kiệm, là nguyên nhân của sự nghèo, sự khó,
họ phá hoại hạnh phúc của con người.
Cơ hàn đói khó,
thay vì phải làm lụng như những người khác mưu cuộc sống còn,
họ gây cái lỗi này rồi đến cái lỗi khác, phạm tội này rồi tới
tội nọ, tạo chẳng biết bao nhiêu chuyện bất lành cho nhân
chủng. Lưới trời tuy thưa nhưng khó lọt, những kẻ ấy dầu họ
không bị luật hình của loài người phân xử, song cơ Trời cũng
sẽ báo ứng đến những hành vi đen tối, nếu họ không chịu ăn năn
chừa lỗi, sửa tánh tu thân, bỏ thói vô nghì lánh điều phi
nghĩa.
3/ Tà Dâm:
"Muôn việc lành, hiếu thuận đứng đầu, ngàn việc dữ, tà dâm
đứng trước". Sách sử thường bảo như thế. Lần dở xem sử sách,
thời thấy tội ác ấy làn diễn khắp nơi, từ trào nội đến thứ
dân, từ trong gai đình đến kẻ xa người lạ. Nó là mầm gây ra
biết bao thảm trạng. Gương của vua Tế với vợ Thôi Tử?, An Lộc
Sơn với Dương Quý Phi há chẳng còn lưu niên hậu thế? Giàu ỷ
của, hiếp dâm kẻ khó, quan ỷ quyền cưỡng bức đám dân hèn. Gian
phu dâm phụ, từ xưa đến nay luôn luôn đều có.
Muốn tránh sự bại
hoại nền luân lý nước nhà, muốn giữ gìn tiếng tăm của gia thế,
phải đừng để dục tình lôi cuốn, bắt chước gương xưa trau dồi
lòng hiếu trung trinh tiết.
4/ Lưỡng Thiệt:
đứng đầu các
tội ác do miệng lưỡi gây ra, ác lưỡng thiệt này đã làm duyên
cớ cho những sự hiểu lầm nhau, những sự cãi vã, gây gổ, sanh
oán sanh thù. Sự phải của người thì bớt, sự quấy của người thì
thêm, cái lưỡi đã tạo những sự chia rẽ, những cuộc phân tranh,
phá tan sự đoàn kết, tình thân yêu giữa nhân loại. Nó cũng là
nguồn cội của bao nhiêu bất hòa, hiềm khích.
để giải trừ
những tai vạ ấy, phải giữ cho lời nói mình được thành thật,
chánh đáng, được vậy trong hương đảng mới bớt rầy rà, ngoài xã
hội không điều xích mích và mình cũng không còn chịu ác cảm,
tránh sự miệt khinh của kẻ khác.
5/ ỷ Ngôn:
Nói đến tội này tức là nói đến những vụ chủ ỷ quyền nhiếc xài
tôi tớ, quan ỷ thế mắng chưởi dân ngu. Kẻ giàu có thường ỷ
tiền bạc xài xỉ người nghèo, kẻ xảo quyệt ỷ sựkhôn lanh nói
những điều thất thiệt, kẻ học thức ỷ sự khôn ngoan dùng lời
nói hạ nhục người dốt nát.
Hãy tránh những sự
hiếp người như thế ấy, vì những kẻ dưới tay mình cũng có đầu
óc, cũng biết nghĩ suy, nhưng tại họ bạc phước vô phần nên
phải chịu lụy mình vậy. Nếu họ có lầm lỗi hãy dạy dỗ họ, dùng
những cam ngôn mỹ từ, những lời trang nghiêm êm dịu chỉ bảo,
không khá bao biếm mà mang điều tội lỗi.
6/
ác Khẩu:
Những tiếng thề thốt lỗ mãng, chưởi mắng tục tằn làm ra tội
này. Con chưởi mẹ, mắng cha, không kể luân thường thảo hiếu,
mạnh bạo hăm he đánh giết những kẻ yếu hèn, hiếp đáp xóm chòm
cô bác. Mở miệng ra chưởi gió mắng mây, trù rủa gia đình,
không kiêng thần thánh. Tối ngày kêu réo Phật Trời, mời th3nh
Long Cung, làm thêm tội lỗi càng thêm chồng chất.
Hãy bỏ những tiếng
tục tằn thô lỗ, làm cho đời sống được êm dịu thanh bai hơn.
đối với cha mẹ
phải có lễ độ, với gia đình, với bà con cô bác, với xóm chòm
quen thuộc, lời nói mình phải đoan trang nghiêm chỉnh. đối với
con cái trong nhà, không nên nói những điều ác đức, phải dùng
lời nói dịu dàng hiền hậu dạy dỗ chúng.
7/ Vọng Ngữ:
Thêm thừa huyển hoặc, có nói không, không nói có, ác vọng ngữ
đã làm nguyên nhân cho những sự bất công của nhân loại. Thương
người nào kiếm cách bào chữa, giấu giếm sự quấy và thêu thùa
sự tốt ra, ghét ai đặt điều nói xấu và che đậy các điều phải
của họ. Khoe khoan tự đắc, xảo trá đa ngôn, những kẻ điêu ngoa
làm cho thiên hạ khinh khi miệt thị.
Muốn tránh những
điều khiến cho tư cách nhân quần phải bị giảm hạ, hãy tập tành
nói năng chân chánh, bỏ lối láo xược trớ trêu. Chẳng nên tráo
chước với người, bỏ tiếng xảo ngôn và phải dùng lời chơn chất.
8/ Tham Lam: Tánh
tham lam đã làm cho loài người phải chịu bao nhiêu điều thảm
khổ: chiến tranh, cướp bóc, giết người... tham danh, tham lợi,
tham sắc, tham tài, tham quyền, tham thế... Những sự ấy đã xô
đẩy con người vào chẳng biết bao nhiêu cuộc chiến đấu ác liệt,
gây nên những thảm họa tầy trời. Những tấn tuồng giặc giã,
cướp của sát nhơn, những vụ hối lộ, tham ô, những vụ tranh thế
giành quyền đã làm cho nhân sanh điêu linh trong vòng tai nạn
khốc hại. Cái tham ấy cũng đã làm cho con người đau buồn hận
khổ, phải khóc đứng than ngồi, phải liều mình tự sát chỉ vì sự
ham muốn không được thực hiện. Người ta quyên sinh vì tình
yêu, vì lợi quyền, vì thất trận... Những cuộc cấu xé lẫn nhau,
những vụ nồi da xáo thịt, những vụ tương sát tương tàn, những
điều hung hăng bạo ác cũng do sự tham lam mà ra cả. Ngày giờ
nào loài người diệt được tánh tham lam của mình, ngày giờ ấy
bớt được một phần lớn của sự khổ. Vả lại, ở đời phải có những
lúc thăng trầm chìm nổi, có thì ta xải, không ta nhịn, can gì
phải bày mưu tính kế chiếm đoạt của kẻ ngoài. Của là của chung
trong thiên hạ, đời ta còn, nó còn, đời ta mất nó mất, gương
Thạch Sùng, Vương Khải há không để lại cho ta một bài học đích
đáng lắm ru? Thế nên hãy nghĩ đến người cũng như nghĩ đến
mình, hãy dẹp lòng vị kỷ tham lam, lo vun trồng phước đức, bố
thí kẻ nghèo hèn, rán công phu sám hối để có thể yên vui nơi
miền Cực Lạc, lánh sự giả tạm ở cõi trần này.
9/ Sân Nộ:
Tánh nóng nảy thường xúi con người làm những chuyện bất công
sái phép, chém giết, oán thù nhau. Kẻ thắng kiêu hãnh, người
bại hổ ngươi, nên sự hiềm thù càng lan rộng. "Giận mất khôn",
cơn giận làm cho con người cuồng trí, mất sự tự chủ, trở nên
dữ dằn bạo tợn, chẳng còn nghĩ đến việc công bình, lẽ phải
trái.
Diệt được nó tâm
ta được thành thơi, trí ta được thong thả. Hãy mở lượng khoan
hồng dung tha kẻ lầm lỗi. Hãy nhẫn nhịn và chẳng nên cải cọ
tranh luận hơn thua làm cho nảy sanh ra những điều hiềm khích.
10/ Mê si:
Tội ác này do sự thiếu óc phán đoán, thiếu sự nghĩ suy mà ra,
vì vậy con người ít hay phân biệt được lẽ phải trái, bo bo giữ
thiển kiến sai lầm, chẳng chịu nhìn nhận chân lý, suốt cả đời
ngu muội, chỉ biết mê man theo những vật nhỏ nhen, mau tan,
mau rã, chỉ biết tin bướng làm càn, không tìm hiểu con đường
giải thoát.
Hãy xóa bỏ các
điều mê tín, quy thuận theo tinh thần đạo đức, lánh chốn lầm
tỉnh cơn mộng huyển, phá tan màn vô minh che mờ tâm trí, lần
bước trên con đường đạo hạnh, đi đến chỗ Bất Diệt, Bất Sanh".
đọc
xong bài thuyết pháp về Thập
ác này, ta hiểu
rõ tại sao Huỳnh Phú Sổ, chỉ xuất hiện dưới hình tướng cư sĩ,
không cạo đầu, không mặc áo cà sa, không ở chùa tụng kinh gỏ
mõ, mà thuyết giảng Phật pháp có cả triệu tín đồ nghe theo,
sống chết tu hành, còn tăng, ni thuyết pháp thì chỉ có vài
trăm người hay cả những vị danh tăng cũng chỉ có vài ngàn
người nghe, mà đa ssố nghe rồi lại bỏ đó, không đem áp dụng
trong cuộc sống hàng ngày.
Lý do là Huỳnh Phú sổ đã thuyết pháp đúng
tâm lý con người, đúng thực trạng xã hội, đúng căn cơ, trình
độ của quảng đại quần chúng, và đồng thời không những đúng
theo giáo pháp, mà còn triển khai sinh động, cụ thể, xác đáng
những gì mà đức
Phật đã thuyết giảng vào hoàn cảnh đặc thù của con người và xã
hội Việt Nam. 95 % dân chúng Việt Nam là nông dân, thợ thuyền,
nội trợ, phu phen lao động, lính tráng, 4,9% còn lại là thầy
giáo, cô giáo, tiểu thương, buôn bán, học trò... tất cả đều ít
học, hiểu biết rất hạn chế, chỉ có chưa đến 0,1% tạm gọi là
trí thức, có trình độ, cho nên thuyết giảng cao hơn không cách
gì làm cho quần chúng bình dân lãnh hội được và vì vậy, không
có tác dụng đánh thức và chuyển hóa người nghe. Trong lịch sử
truyền bá Phật giáo tgại Việt Nam, có lẽ Huỳnh Phú Sổ là người
thuyết pháp phù hợp nhất, có ảnh hưởng nhất với quần chúng
bình dân. Do đó, ta không lấy làm lạ khi ông trở thành nhà
hoằng pháp thành công nhất trong lịch sử 2.000 năm PGVN. Ngay
cả đại thiền sư Trúc Lâm Trần Nhân Tông, Hoàng
đế và Thái
Thượng Hoàng, Tổ thứ nhất của Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử và
Tăng Thống của nền Phật giáo thống nhất cực thịnh đời Trần, có
lẽ cũng không thành công hơn trong việc thuyết pháp và hoằng
pháp.
Sau khi trình bày Tam Nghiệp và Thập
ác, Huỳnh Phú
Sổ tóm lược và diễn giải bài Tứ Diệu
đế, là phần
chính của bài thuyết pháp đầu tiên của
đức Phật cho
năm người đệ tử xuất gia đầu tiên của Ngài, từ đó tăng đoàn
Phật giáo được thành lập.
Sơ giải về Tứ Diệu
đế:
1/ Khổ đế:
gồm các sự khổ
trong đời.
2/ Tập đế: Gồm có
các tập nhơn sanh ra quả khổ.
3/
đạo đế: Gồm có
tám đường chánh.
4/ Diệt đế: Phương
pháp diệt khổ, hưởng quả Niết Bàn.
Sơ giải:
A/ Khổ đế:
đức Phật nói
rằng tất cả chúng sanh trong cõi trần nầy chịu muôn ngàn hkổ
não, kể chẳng xiết, nhưng có thể tóm tắt lại làm tám điều, vì
trong tám điều ấy nó có thể nẩy ra muôn ngàn khổ não kia.
1/ Sự sanh khổ:
... phải chịu sự tối tăm, tù túng, chẳng thấy trời trăng, bị
bao bọc ràng rịt, thai nhi bị sự nuôi dưỡng bằng tinh huyết
của mẹ, lúc mẹ đau ốm thì thai nhi yếu ớt, lúc mẹ làm lụng mệt
nhọc, thai nhi chẳng yên, lúc mẹ đói cơm, thai nhi dường như
cái túi bị treo chẳng cững, lúc mẹ ăn uống no bụng, thai nhi
bị sự lấn ép của bao tử và ruột rất nhọc nhằn. Khi đúng ngày
giờ sinh phải chun ra cửa sản môn ô uế như hai viên đá ép
mình, khi ra khỏi mình mẹ, cảm thấy hơi gió cắt da, đau nhức
khó chịu nên cất tiếng khóc để tỏ ý chẳng bằng lòng với cảnh
cực nhọc.
Xét như vậy nên
Phật mới cho sanh là khổ, mà chúng ta là người học đạo, xét
cho chí lý đều cũng phải công nhận sự nhận xét của Phật rất
đúng vậy.
2/ Sự già khổ: Hễ
sanh ra thì lớn, lớn rồi tất phải già, xét nghĩ trong tuổi
thanh xuân, đời sống cứng cõi, hoạt động hăng hái, đi đứng lẹ
làng, nói năng bặt thiệp, xác thịt mạnh mẽ, học hỏi dễ dàng,
tỏ tai mắt sáng, thấy biết nhiều điều. ô hô, mà nay sao lại
răng rụng mắt mờ, ù tai, choán óc, da nhăn má cóp, gối mõi
lưng khòm, nằm ngồi chậm chập, đi đứng xép xiêng, ăn uống đổ
tháo, bọn trẻ dễ khinh, già đành nhờ cậy, đi tay nương gậy,
phế việc dân quan, tinh thần hao kém, khí lực hầu tàn, thoạt
nhớ thoạt quên, nhiều khi lầm lẫn, tóc bạc da mồi, lắm điều
lao nhọc.
Vậy nên Phật mới
cho sự già là khổ, mà chúng ta cũng không thể nào không chấp
nhận.
3/ Sự đau khổ:
Nghĩ vì thân thể con người sanh ra cõi trần, có lớn già thì
tất nhiên yếu đuối, nếu đã yếu đuối ắt ăn ngủ chẳng được điều
hòa, thêm ngoài ra bốn mùa thay đổi tám tiết xoay vần, do nơi
thân già yếu đuối cảm những tà khí mà sanh ra bịnh tật. ôi, hễ
thân huyển giả này mang lấy bịnh tật rồi, nào là cơn tỉnh, cơn
mê, tay chân nhức nhối, gan ruột quặn đau, phổi héo tim hô, kẻ
mang lao mang phổi, phương đàm ho suyển, người thì đui, cùi lở
lói, bại xuội sưng tê, thang thuốc chẳng an, khẩn nguyền không
giảm, cầu sống chẳng đặng, cầu chết chẳng xong.
Vậy thử hỏi khách
trần gian ai mà không muốn xa muốn tránh, mà nào ai được khỏi?
Muốn tránh, tránh chẳng được, lại đa mang, như còn khổ não về
bịnh tật, bút nào mà tỏ ra cho hết.
4/ Sự chết khổ:
Vật chi mà sanh trong cõi trần gian theo các công lệ tự nhiên,
hễ có sanh ra thì phải có ngày tiêu diệt. Còn cái thân con
người của ta do nơi tứ đại (đất, nước, gió, lửa) mà hiệp
thành, có bền chắc chi đâu mà tránh khỏi ngày tan rã?
Tại sao mà gọi
thân tứ đại hiệp thành? Xét rằng tuy là ta thấy có sự cấu tạo
của cha mẹ mà thành thân của ta, nhưng mà cái thân này suy gẫm
cho kỹ lại: thịt và xương cốt là chắt đặc nên thuộc về đất,
máu huyết chất lỏng nên thuộc nước, hơi thở của ta thuộc về
gió, sự ấp áp của ta thuộc về lửa.
Nhờ bốn món ấy
chung hợp lại mới thành cái xác thịt của ta. Nếu hễ đến ngày
tàn tạ rồi thì xương thịt rã ra hườn lại đất, máu huyết chảy
ra hườn lại nước, hơi thở dứt đi thì trở lại với gió, sự ấm áp
dứt đi thì nó trở lại cái nóng của mặt trời... Nhờ xác thịt mà
học họi, kinh nghiệm việc đời, xử sụ tiếp vật, đeo đắm theo
lợi lợi danh danh, tài tài sắc sắc, không có chịu tra cứu phân
biệt cho rõ giả chơn, ý thức sai lầm, nhận không rằng có, nhận
có rằng không, thấy tà nói chánh, gặp chánh tưỏong tà, rồi
cũng do sự sai lầm ấy mà nhận huyễn thân này làm thiệt thân
của mình, mãi lo o bế sửa sang, dồi mài cạo gọt, cưng nó,
dưỡng nó như: tích trữ cơm tiền, kiếm tìm thanh sắc để cho nó
vui, xây dựng cửa nhà cho nó ở (vẫn biết rằng ở trong đòi ai
cũng phải lo thân, nhưng mà người hiểu đạo, biết rõ cái thân
của mình tạm mượn trong thời gian để học hỏi nên lo vừa chừng,
chẳng bỏ xác ấy có cái khác, còn người không hiểu đạo thì bo
bo giữ nó bằng lối ích kỷ mê lầm) ấy là muốn cho nó được
trường tồn, kịp đến khi tử thần gõ cửa, số vô thường đã tới,
sanh ra muôn ngàn kinh hãi, thần trí hôn mê, rất trìu mến cõi
đời, cửa nhà vợ con, mà không làm sao sống được nữa, nên lúc
ấy kẻ phùn mang trợn mặt, người chắt lưỡi nghiến răng, lăn lộn
giật mình, kêu than thảm thiết. Xét coi lúc ấy khổ là dường
nào"...
Nói về cái khổ của con người thì không cách
gì liệt kê cho đầy đủ. Thống thiết như
đức Phật đã
nói: "Nước mắt của chúng sanh nhiều hơn nước trong bốn biển"
cũng không diễn tả hết nổi khổ của con người. "Sanh là khổ,
già là khổ, bịnh là khổ, chết là khổ, sống chung với người
mình không ưa thích là khổ, xa lìa những người thân yêu là
khổ, mong muốn mà không được là khổ, tóm lại, chính thân ngủ
uẩn là khổ", đó là nguyên văn lời
đức Phật dạy
trong kinh Chuyển Pháp Luân.
Thật ra, con người ngày nay còn chịu nhiều
cái khổ hơn thế nữa, chính yếu là khổ vì chiến tranh, vì chế
độ hà khắc, vì bị tù tội, bị mất các quyền tự do và các nhân
quyền, vì đói lạnh, thất nghiệp, vì làm việc cực nhọc đầu tắt
mắt tối, vì kinh tế khủng hoảng, vì thiên tai, vì cướp bóc,
hãm hiếp, vì bị đày ải, áp bức, vì nợ nần, vị kiện tụng...
Tuy trình bày sự thật đau khổ của kiếp
người, nhưng đạo Phật là đạo rất lạc quan, rất tích cực vì nó
biết rõ nguồn gốc của khổ là do con người tự tạo ra, nên nó
đặt trọn vẹn nền tảng giáo lý trên khả năng tự cứu của con
người thật sự có khả năng diệt khổ đau, trói buộc, để được
giải thoát và an lạc. Tập đế, nguyên nhân sinh ra đau khổ
chính là vô minh và ái dục của con người. Nên Diệt đế, chân lý
cao thượng về sự diệt khổ là xa rời tâm ái dục, sinh ra bởi vô
minh và chấm dứt hoàn toàn mọi sự đau khổ, được
đức Phật trình
bày tiếp theo trong Kinh Chuyển Pháp Luân, chính là bát chánh
đạo.
Huỳnh Phú Sổ cũng đã dành một phần quan
trọng để trình bày về bát chánh đạo như sau và diễn giảng rộng
hơn, dài hơn rất nhiều so với lời dạy của
đức Phật trong
kinh Chuyển Pháp Luân (điều đáng ngạc nhiên: tứ diệu đế, trong
đó có bát chánh đạo, là mấu chốt, nền tảng của đạo Phật mà lại
được chính đức
Phật trình bày quá ngắn ngủi, chỉ có mấy trang).
"Luận về Bát Chánh
Trừ xong ba nghiệp
chướng (của thân, khẩu, ý) hãy làm theo tám điều chánh, và sau
khi diệt được thập ác rồi, tự nhiên mười điều lành hiện ra,
như thế ta đã đi thêm được một bước trên con đường
đạo Hạnh. Những
sự tấn bộ ấy không có nghĩa là đạt được mục đích. Thế nên, cần
phải hành luôn đạo
Bát Chánh tiếp theo, vì đó là quyển kinh nhật tụng của những
ai muốn thoát chốn mê đồ, tấn triển trên đường giải thoát.
Bát Chánh gồm
có:
1/ Chánh kiến
2/ Chánh tư duy
3/ Chánh nghiệp
4/ Chánh tinh tấn
5/ Chánh mạng
6/ Chánh ngữ
7/ Chánh niệm
8/ Chánh định
1.- Chánh kiến:
Chánh: đúng sự thật, kiến: thấy, xem xét. Chánh kiến: dòm ngó,
xem đúng theo sự thật.
Phàm con người
thường hay bị bản ngã lôi cuốn, trí mờ ám làm cho sai chạy ít
nhiều sự thật. Khi vì thiếu sự sáng suốt, khi vì tư thù, khi
vì lợi kỷ, khiến cho con người không biết đường ngay nẻo thẳng
nên sự phán đoán không cônb bình chánh đáng, làm cho kẻ khác
chịu oan tình. Vì thế, mục Chánh Kiến dạy ta phải đem trí năng
truy cứu sự rắc rối, cẩn thận xem xét tránh sự lạc lầm trong
khi phê đoán bất cứ việc gì, dầu của mình hay của kẻ khác. Sự
quan sát cực điểm, cách xét đoán tận tường, tránh cho ta những
tà kiến (sự xem xét lầm lạc) sai chạy, khiến ta dẹp bản ngã đã
làm cho trí tuệ mịt mờ, u ám, giúp cho ta hiểu biết rõ ràng,
minh bạch, cách phán đoán được ngay thẳng công bình.
Chẳng thế, nó còn
giúp cho ta hiểu biết các điều tục lụy trong trần, biết được
lẽ mầu nhiệm tôn giáo khiến ta xua đuổi các điều tà mị, bỏ các
sự hay mê, trở về với đạo lý, thoát đọa hồng trần. Nó tránh
cho ta tất cả sự giả dối và nhớ thế nên ta khỏi bị lạc lầm
trong khi hành đạo.
2.- Chánh tư
duy:
Tư tưởng chơn chánh. Sanh ở trong trần con người thường bị các
thị dục cám dỗ: lợi danh, quyền tước, nghĩa vợ tình chồng...
cái tư tưởng đã rù quyến tâm trí mãi mãi quay cuồng vào những
sự ấy không thể nào thoát lý ra được.
ấy về phần tà.
Phần chánh dạy
rằng: tâm cần phải bình, tánh cần phải tịnh, giữ tư tưởng cho
thanh cao, trí ráng tìm cái chân lý, chân lý ấy là cái đạo của
mình đối với nhân loại, của mình đối với Trời Phật, của mình
đối với mình. Vì vậy hãy đặt tư tưởng mình vào công cuộc tìm
phương cứu giúp sanh linh trong vòng trầm luân oan nghiệt. Hãy
tin tưởng Phật Trời và cầu nguyện đấng Thiêng Liêng ban bố
phước lành cho nhân chúng. Hãy tìm con đường giải thoát cho
mình bằng cách lạc đạo an bần, xả thân tu tỉnh.
3.- Chánh
Nghiệp:
Việc làm chánh đáng ngay thẳng.
đối với kẻ
xuất gia đầu Phật, ngoài những lúc tham thiền nhập định, những
khi trì tụng, kinh hành, những khi đọc kinh viết sách, những
lúc công quả cho nhà Thiền, chẳng có làm việc chi có thể tạo
thành ác nghiệp cả.
Những kẻ tại gia
cư sĩ, trái lại, còn cần phải lo kế sinh nhai, mưu cuộc sống
còn, tóm lại cũng tại vì xác thân mình ra cả. Tuy nhiên, dầu
đời sống của họ có bị sự sinh nhai chi phối song cái chi phối
ấy, khác hẳn với kẻ gian tà đạo tặc, chẳng có việc làm gì xảo
trá bất nhân. Trong cuộc mưu cầu cho lẽ sống, họ cũng nguyện
bỏ những nghề nghiệp gây tai hại cho con người: nuôi điếm, bán
á phiện, buôn rượu, đầu cơ, cho vay cắt cổ, v.v...
đành rằng
những người buôn bán ấy không có ép bạn hàng, song tại có họ
làm các nghề nghiệp ấy, con người mới bị hư hỏng, trụy lạc,
hoang đàng, trà đình tửu điếm... Họ là đồng lõa mà phạm nhân
là những kẻ nghiện ngập say sưa.
Thế nên mục Chánh
Nghiệp răn cấm chúng ta làm các nghề ấy.
Kẻ tại gia cư sĩ
cũng chẳng sát hại vô cớ các sanh vật, hoặc không đánh đập,
chém đâm ai có thể gây ra nhiều điều tội lỗi.
4.- Chánh tinh
tấn:
Tín ngưỡng chơn chánh và lướt tới.
Phái vô thần luận
thường cho rằng thân xác tức là con người. Thân còn tức là
người còn, thân mất, người mất. Không có Thánh, Thần, Trời,
Phật, không quả báo luân hồi, cũng chẳng có tội, có phước, có
vía, có hồn. đời
là thân xác con người, sống là tranh đấu, mạnh được yếu thua.
Thế nên biết bao nhiêu mánh khóe gian hùng, bao nhiêu ngón
điêu ngoa xảo trá, boa nhiêu tàn bạo ngược ngang đều được đem
ra dùng cả thảy.
Vì vậy, mục Chánh
tinh tấn nầy khuyên hãy rán giữ đức tin cho mạnh mẽ. Dầu các
thị dục có lớn lao thế mấy, dầu cho có sức lực gì cám dỗ hay
bức bách bỏ lòng tín ngưỡng Phật trời đặng theo việc khác, các
sự ấy cũng chẳng thể lôi kéo được. Và ta luôn luôn phải nhớ
đến công việc cứu vớt quần sanh thoát nơi khổ hải của
đức Thế Tôn,
phải nhớ rằng sanh linh đang chìm đắm trong bể hồng trần, rằng
ngày giờ nào còn có kẻ trong chúng sanh chịu khổ, thì ta cũng
phải khổ vì họ vậy, rằng ta có cái bổn phận giác ngộ trần trần
gian bỏ những oan trái luân hồi cay nghiệt.
Muốn thế trước hết
phải tìm phương tự giác, nhắm cảnh Niết bàn tấn tới, quyết chí
tu hành đắc thành đạo quả hầu dắt dìu bá tánh thập phương xa
miền tục lụy. Người bỏ hết các sự rầu buồn, các điều tà vạy,
dẹp lục căn, lục trần và rán làm cho tinh thần được thêm sáng
suốt, rèn luyện các đức tánh cho thiện mỹ, yên tịnh, hỉ lạc,
nghiêm trang quyết gắng công phu, một lòng bước tới Niết bàn
đặng có tế độ chúng sanh thoát khỏi luân hồi quả báo.
5.- Chánh mạng:
Sanh mạng chân chánh, trong sạch.
ở đời, người ta
hay lấy xác thân mình làm gốc và hay quý trọng săn sóc nó. ấy
cũng do lục căn mà ra: nhãn, nhĩ, tỹ thiệt, thân, ý. Mắt ưa
xem sắc đẹp, tai ưa nghe tiếng hay, mũi ưa ngửi hương thơm,
lưỡi ưa đồ ngon béo, thân ưa sự sung sướng, ý ưa chức phận
cao.
Người ta tìm đủ
phương thế bổ dưỡng thân xác mìnhlàm cho trí tuệ càng ngày
càng thêm mờ ám, ngu đần, không còn lo lắng đến sự tiêu diệt.
Thế nên, hãy xa
lánh những điều làm tinh thần bị đen tối, bỏ hết đài các xa
hoa, thân mình tự chủ để tìm chỗ bất diệt bất sanh, thiền định
đặt làm thể, trí tuệ đặt làm mạng, linh hồn nhập liên hoa,
siêu sanh vào cõi Niết Bàn.
6.- Chánh ngữ:
Lời nói chơn thật.
Lục căn làm cho
con người nhiễm lục trần.
Vì muốn nuôi dưỡng
xác thân nên mới sanh ra các điều ham hố là nguồn cội các tội
lỗi. Trong những tội lỗi ấy cũng có nghiệp chướng của miệng
lưỡi: lưỡng thiệt (làm cho thiên hạ bất hòa nhau), ỷ ngôn (lời
chưỡi mắng kẻ dưới tay), ác khẩu (tiếng độc ác tục tằn chưởi
rủa Thần Thánh), vọng ngữ (nói láo, nói huyễn hoặc).
Hãy tập lời nói
mình cho chân chánh, đúng với sự thật, hãy bỏ hết những xảo
ngôn tráo chác, những tiếng thô lỗ cộc cằn, phàm những khi bàn
luận việc chi, phải nói tỏ tường ngay thẳng. đối với kẻ dưới
bề trên, lời nói phải cho hiền lương đức hạnh và những sự
khuyên dạy chỉ bảo kẻ khác làm theo lẽ phải đều có ích lợi cho
chúng sanh và đều hạp với tinh thần đạo đức.
7.- Chánh niệm:
Ghi nhớ chân chánh.
Còn cũng tưởng,
mất cũng tưởng, có cũng tưởng, không cũng tưởng, thành cũng
tưởng, bại cũng tưởng, thương cũng tưởng, ghét cũng tưởng...
Thất tình lục dục bắt buộc con người phải phí biết bao tâm cơ,
bao nhiêu trí não phụng sự nó. Danh lợi, cảm tình, uy quyền,
phú quý... được hằng ngày ghi nhớ. Vì thế con người mãi mãi
lăn lộn trong sáu đường không thoát khỏi vòng sanh tử.
để thoát chỗ luân
hồi bỏ cuộc đời lầm than hoạn họa, hãy rán tưởng niệm phương
pháp hành đạo, bỏ các điều phù phiếm, ghi nhớ công lao đức
Phật đối với quần sanh, bia tạc vào lòng những điều Phật giáo.
Phải nhớ rằng thân xác do tứ đại (đất, nước, gió, lửa) tạo
thành và sớm muộn gì nó cũng sẽ bị tan rã.
đặng vậy, ta
mới bỏ được các sự xúc động, các mối dục tình tránh điều khổ
lụy do nó gây nên.
8.- Chánh định:
Suy gẫm chân chánh.
Con người thường
hay có những ý định làm cho mình được sáng thêm lên, được giàu
thêm lên, được sung sướng thêm lên... nghĩa là những ý định
hoàn toàn nhỏ nhen thấp thỏi. Họ không hiểu rằng cuộc đời là
giả tạm, nay vầy mai khác, thân thế lạc luân, của cải, gia tài
như đám phù vân trước gió, nước bọt, mây bèo. Những cái sanh,
cái bịnh, cái lão, cái tử được đặt lên cuộc đời của người này
rồi đến người khác... rồi đến người khác nữa, nghĩa là cả nhân
loại không thiếu sót một ai. Thế mà, họ vẫn cuốn cuồn tâm trí
theo bả lợi danh, mùi phú quý, đi theo những vụn vặt, tiểu ti
eo hẹp.
Họ không hiểu được
rằng kiếp phù du của trần thế, có cái gì không di không dịch,
vĩnh viễn trường tồn. Nếu lấy sự thiền định phá tan màn u minh
che phủ, thì thấy rằng ở cảnh ấy con người sẽ hết buồn hết
khổ, hết quả báo luân hồi. Và khi ta dùng sự chánh định dẹp
tan hết các phiền não rầu buồn, phá tan các làn sóng thị dục
lôi kéo vào những nẽo tà, tâm ta chẳng còn xao động, trí ta tỏ
rạng như trăng rằm, một màu sáng suốt, không nhiễm ô cảnh
ngoại, sứt tuyệt hết sự phàm trần, lần bước đi đến cõi Giải
thoát".
Phần bát chánh đạo nầy được trích từ cuốn
"Cách Tu Hiền Và Sự ăn
ở Của Một Người Bổn đạo"
(quyển sáu), được viết vào tháng 5 dương lịch năm 1945, tại
Sài Gòn, khi đó Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ được 26 tuổi.
đây là lối văn được viết cách đây đúng 50
năm, và lối văn bình dân của người Nam Bộ. Có một số tăng, ni,
Phật tử chê những lời thuyết giảng của Huỳnh Phú Sổ quá bình
dân, tầm thường, nông cạn, kém cỏi hay giáo lý Phật giáo Hòa
Hảo không có gì cao siêu, mới mẽ hay không phải là Phật pháp
chân chánh của đức Phật Thích Ca. Bát chánh đạo là nền móng
của đạo Phật, bất luận tông phái Phật giáo nào, tại bất cứ
quốc gia nào và ở bất cứ thời đại nào cũng đều công nhận như
thế. đặc biệt đối với các tăng sĩ và Phật tử thuộc Phật giáo
Nam Tông, hay Nguyên Thủy, hay Tiểu Thừa (ngày nay và từ hàng
thế kỷ nay, các nước này không có ni, không cho phép phụ nữ
được xuất gia và không công nhận, không những thế còn bác bỏ,
toàn bộ các kinh điển đại thừa như Kim Cang, Lăng Già, Hoa
Nghiêm, Pháp Hoa. Họ coi những kinh điển Phật giáo này không
do chính đức
phật thuyết
giảng. Về mặt tư tưởng cũng như lịch sử, Phật giáo Nguyên Thủy
không phải là Phật Giáo Tiểu Thừa, nhưng ở đây ta tạm xử dụng
khái niệm thông thường trong nhân gian coi "Nguyên Thủy" là
"Tiểu Thừa". (Muốn biết rõ sự phân biệt này xin đọc ba bộ sách
lớn: Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Tiểu Thừa Phật Giáo
Tư Tưởng Luận và đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận của Kimura
Taiken, Quảng độ
dịch).
Cư sĩ
Huỳnh Phú Sổ và danh tăng Narada Maha Thera.
Bây giờ ta thử so sánh sự diễn giải bát
chánh đạo của Huỳnh Phú Sổ với sự diễn giải của
đại
đức Tích Lan
Narada Maha Thera, một học giả Phật Giáo nổi tiếng được công
nhận khắp thế giới, trong cuốn The Budda And His Teachings, và
được chuyển ra Việt ngữ bởi Phạm Kinh Khánh là "đức
Phật Và Phật Pháp". Cuốn sách xuất sắc được coi là sách căn
bản cho ai muốn tìm hiểu Phật giáo Nguyên Thủy. Qua sự so sánh
này, ta sẽ thấy kiến thức Phật Học và sự diễn giảng Phật Pháp
của Huỳnh Phú Sổ là đúng hay sai, cao hay thấp và có hợp với
chủ ý của đức
Phật hay không?
Trong kinh Chuyển Pháp Luân cũng như trong
chương về Bốn Chân Lý Cao Thượng hay Tứ Diệu
đế của cuốn
đức Phật
và Phật Pháp,
bát chánh đạo được trình bày theo thứ tự sau: - Chánh kiến –
chánh tư duy – chánh ngữ - chánh nghiệp – chánh mạng – chánh
tinh tấn – chánh niệm – chánh định.
Huỳnh Phú Sổ theo thứ tự khác một chút: -
chánh kiến – chánh tư duy – chánh nghiệp – chánh tinh tấn –
chánh mạng – chánh ngữ - chánh niệm – chánh định.
Cả hai lối trình bày đều để chánh kiến và
chánh tư duy trước hết và chánh niệm, chánh định sau cùng, chỉ
khác nhau trong sư sắp xếp thứ tự trước sau của chánh ngữ,
chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn theo Thera hay chánh
nghiệp, chánh tinh tấn, chánh mạng, chánh ngữ theo Huỳnh Phú
Sổ.
Sự khác biệt này không quan trọng.
đặt chánh
nghiệp, chánh tinh tấn trước chánh mạng, chánh ngữ cũng có lý.
Mà đặt chánh ngữ, chánh mạng trước chánh nghiệp, chánh tinh
tấn cũng không có gì sai. điều quan trọng là cách diễn giải,
vì như đã nói kinh Chuyển Pháp Luân quá ngắn, và trong đó
đức Phật lần
đầu nói về bát chánh đạo mà lại không có diễn giải. Bây giờ ta
coi có gì khác biết trong sự diễn giải của học giả Tích Lan
Naraga Thera và Phật tử Việt Nam Huỳnh Phú Sổ không?
* Narada nói "chánh kiến là hiểu biết đúng
đắn, tức am hiểu tận tường Tứ Diệu
đế. Nói cách
khác, chánh kiến là thấu triệt thực tướng của bản thân mình".
Và ông chỉ viết vỏn vẹn có 7 hàng cho vấn đề quan trọng này.
đây là cách
giải thích vụng về, vì nó bắt người ta phải hiểu "tứ diệu đế"
là gì hay "thực tướng" là gì mới hiểu được chánh kiến là gì.
Huỳnh Phú Sổ giải thích chánh kiến là nhìn
thấy, xem xét, hiểu biết đúng theo sự thật. Cũng có nghĩa
không nhìn thấy, xem xét, hiểu biết theo tà kiến, theo những
sự dối trá, giả dối, không đúng với sự thật. ông giải thích
bằng cách dùng những chữ như "tà kiến", "các điều tà mị", "sự
giả dối" để làm sáng tỏ sự diễn giải của ông.
đây là sự giải
thích chánh kiến rất chính xác, rõ ràng và đầy đủ.
* Narada viết "chánh tư duy là có những tư
tưởng chơn chánh... gạt bỏ những ý tưởng và những khái niệm
sai lầm... Chánh tư duy gồm ba phần: Nekkhamma, xuất gia, là
sự từ khước những dục vọng trần tục... Avyapada tâm từ ái...
Avihimsa không hung bạo hay ôn hòa, hiền lương, lòng bi
mẫn..." rồi ông
viết đến 5 trang nói về tâm từ và tâm bi trong mục nói về
chánh tư duy (trong khi đó mục chánh kiến ông chỉ viết đúng 7
dòng). Huỳnh Phú Sổ diễn dịch chánh tư duy là tư tưởng chơn
chánh, không mãi mãi quây cuồng theo các thị dục cám dỗ, đó là
những tà (tư duy). Suy nghĩ chân chánh như thế nào?
ông dạy tâm cần
phải bình, tánh cần phải tịnh, giữ tư tưởng thanh cao, rán tìm
chân lý, hãy đặt tư tưởng vào công cuộc tìm phương cứu giúp
sanh linh, hãy tin tưởng Trời Phật, hãy tìm con đường giải
thoát... ông
viết chỉ nửa trang nhưng súc tích, chính xác và cao siêu hơn 5
trang giấy của vị cao tăng Tích Lan.
* Học giả Narada nói: "Chánh ngữ là lời nói
chân chánh, không nói dối, không nói đâm thọc, làm cho người
này phiền giận người kia, không nói lời thô bỉ và không nói
nhảm nhí". Huỳnh Phú Sổ thì cũng nói gần như thế nhưng đầy đủ
hơn, trước hết ông định nghĩa chánh ngữ là lời nói chơn thật,
ông khuyên mọi người không nên nói lưỡng thiệt, làm cho thiên
hạ bất hòa, ỷ ngôn, chưởi mắng kẻ dưới, ác khẩu, tiếng độc ác,
tục tằn, chưởi rủa, vọng ngữ, nói láo, nói huyển hoặc.
ông còn đi xa
hơn bằng cách thực hành chánh ngữ như thế nào?
đó là nói lời
chơn chánh, đúng sự thật, ngay thẳng, hiền lương đức hạnh,
khuyên răn kẻ khác làm theo lẽ phải, nói lời có ích lợi cho
chúng sanh và hợp với tinh thần đạo đức.
* Về chánh nghiệp, Narada định nghĩa là
"hành động chơn chánh, khả dĩ tạo thiện nghiệp, là không sát
sanh, không trộm cắp và không tà dâm". Huỳnh Phú Sổ cũng định
nghĩa chánh nghiệp là việc làm chánh đáng ngay thẳng nhưng ông
đi sâu vào việc sinh sống mưu sinh của người Phật tử tại gia,
là "nguyện bỏ những nghề nghiệp tai hại cho con người... không
vô cớ sát sanh các loài vật, không đánh đập, đâm chém ai".
Cách giải thích chánh nghiệp như Narada rõ ràng là thiếu sót.
Ngược lại Huỳnh Phú Sổ coi chánh nghiệp không những là "việc
làm, hành động chánh đáng ngay thẳng", mà còn cần phải có một
nghề nghiệp mưu sinh chánh đáng ngay thẳng, "không gây tai hại
cho con người", diễn giải như thế chắc chắn là đúng với ý chỉ
của đức Phật
hơn.
* Chánh mạng: là "sanh sống chơn chánh, giữ
thân, khẩu, ý trong sạch sống cuộc đời trong sạch, lánh xa năm
nghề nuôi mạng tạo nghiệp xấu (buôn bán khí giới, nô bộc, thú
vật, chất say và độc dược)" theo Narada. Huỳnh Phú Sổ cũng
định nghĩa chánh mạng là "sanh mạng chân chánh, trong sạch",
ông giải thích
bằng cách nói về sự sai lầm, tai hại của việc say đắm theo lục
căn, lục trần, bổ dưỡng thân xác mà quên mất trí tuệ, tinh
thần bị đen tối, bỏ bớt sự trưởng dưỡng thân xác, "thiền định
đặt làm thể, trí tuệ đặt làm mạng, tự chủ tìm chỗ bất sanh bất
diệt". ở đây
Huỳnh Phú Sổ đã diễn giảng cao sâu hơn, đầy đủ hơn và gần gủi
nhất với ý của đức
Phật.
* Chánh tinh tấn là "cố gắng chơn chánh,
chăm chú kiểm soát thân, khẩu, ý, cố gắng đè nén, tiêu trừ ác
pháp, cố gắng phát sanh, trau dồi thiện pháp". Giải thích như
tác giả Naraga là rất hay. Nhưng Huỳnh Phú Sổ đã giải thích
hay hơn nữa, cao rộng hơn nữa, hùng mạnh hơn nữa và đi ngay
trong lòng Phật pháp.
ông định nghĩa: "Chánh tin tấn là tín ngưỡng chơn
chánh và lướt tới". Thật là tuyệt diệu. ông giải thích
bằng cách phê bình quan niệm sai lầm của phát duy vật, vô thần
chỉ biết xác thịt, vật chất và đưa ra quan niệm độc đáo, hùng
tráng như sau về chánh tinh tấn là không chạy theo vật dục,
cám dỗ thấp hèn, rán giữ đức tin cho mạnh mẽ, nhất quyết không
bỏ lòng tin ở Phật Trời, luôn luôn nhớ đến việc cứu vớt chúng
sanh khỏi biển khổ của đức Phật. Và
ông phát nguyện
bồ tát cũng như kêu gọi mọi người cùng phát nguyện bồ tát lớn
lao, dũng mãnh: "Ngày giờ nào còn một kẻ trong chúng sanh chịu
khổ, ta cũng phải khổ vì họ".
ông cũng kêu
gọi mọi người quyết chí tu hành cho thành chánh quả để hoằng
pháp độ sanh, dắt dìu bá tánh xa miền tục lụy. đúng là tinh
thần tự giác, giác tha độc đáo, đặc thù của Chư Phật mười
phương, ba đời.
* Chánh niệm là "liên tục chú tâm quán
tưởng đến thân, thọ, tâm, pháp" để trừ bốn quan niệm sail ầm
"ưa thích cái không đáng ưa thích, đau khổ lại coi là hạnh
phúc, xem trường tồn cái vô thường, vô ngã lại cho có linh hồn
trường cửu" theo Narada. Theo Huỳnh Phú Sổ thì chánh niệm là
ghi nhớ chân chánh, không nghĩ tưởng đến thất tình lục dục, mà
tưởng niệm đến phương pháp tu hành, đến
đức Phật, đến
Phật pháp, đến sự vô thường của thân tứ đại giả hợp. Cách diễn
giải này mới đúng cách dạy của Phật.
* Chánh định là "nhiếp tâm vào một điểm...
là điều tối cần nhờ đó tâm minh sát có thể nhận chơn được thực
tướng của vạn hữu". đó
là nguyên văn và toàn bộ sự định nghĩa chánh định của theo đại
đức Thera. Huỳnh Phú Sổ định nghĩa chánh định là "suy gẫm chân
chánh", nghĩa là không để tư tưởng, tâm trí chạy theo sự giả
huyển của thân xác và cuộc đời, ngược lại, phải suy nghĩ đến
sự mong manh, vô thường của vạn pháp, và lấy thiền định phá
tan vô minh để cho trí tuệ sáng suốt, giác ngộ xuất hiện. Nghĩ
chánh định là nhiếp tâm vào một điểm như Narada cũng như nhiều
tăng, ni, phật tử khác e rằng sai lạc.
Vì toàn bộ bát chánh đạo, một cách nhất
quán, là gồm hai phần, cho cả tám con đường chân chánh: phần
đầu là phần tiêu cực, đả kích những con đường tà và phần sau,
là phần tích cực là làm hiển lộ, cỗ vũ, tuyên dương những con
đường chánh, giống như phương pháp luận về ngũ giới (gồm ngũ
ác và ngũ thiện) hay về thập giới (gồm Thập
ác và Thập
Thiện). Nên chánh định không có nghĩa là thiền định, là tập
trung tư tưởng hay là ngồi thiền chung chung, mà có nghĩa là
suy gẫm, trầm tư chân chánh, hay tập trung tư tưởng chân
chánh, đúng theo sự thật, biết tất cả là vô thường, sẽ bị tan
rã, tiêu diệt, biết mọi pháp đều vô ngã không có tự tính, chỉ
do nhân duyên mà thành, biết tất cả đều trùng trùng liên hệ
vào nhau, hòa nhập vào nhau v.v... Nếu định nghĩa chánh định
là "nhiếp tâm vào một điểm" như học giả Narada Thera thì
đức Phật chỉ
nói Samadhi (định), chớ không cần phải nói Samma Samadhi
(chánh định).
Chữ Samma có nghĩa là chân chánh, đúng với
chân lý. đức
Phật đã dùng Samma trước tất cả mọi chữ (Samma ditthi: chánh
kiến, Samma Samkappa: chánh tư duy, Samma Vaca: chánh ngữ,
Samma Kammanta: chánh nghiệp, Samma Ajiva:chánh mạng, Samma
Vayama: chánh tinh tấn, Samma Sati: chánh niệm)... vì thời
đức Phật, các
đạo sư hay môn phái khác cũng có dạy về tri kiến, tư duy,
niệm, định v.v... nhưng những lời dạy này không hoàn toàn phù
hợp chân lý và mục đích giác ngộ, giải thoát, như các phương
pháp Yoga (du già) cũng là cách để định, nhiếp tâm vào một
điểm, nhưng nhằm mục đích khai mở bảy luân xa, chớ không phải
để "ngộ nhập Phật tri kiến" như chánh định của
đạo Phật. Huỳnh
Phú Sổ đã thấu hiểu và giảng giải chánh định cũng như toàn bộ
bát chánh đạo một cách chính xác, đầy đủ và sâu sắc hơn cả một
vị cao tăng Tích Lan. Tuyệt vời nhất là
ông đã diễn
giải một cách hợp căn cơ, trình độ và nhất là hợp thời đại,
như cách ông
định nghĩa chánh tinh tấn là: "tín ngưỡng chân chánh và
lướt tới".
Giữ vững tín ngưỡng Phật Giáo chân chánh
và lướt tới cứu vớt quần sanh thoát khỏi biển khổ.
đó là thông
điệp thống thiết của Phật tử Huỳnh Phú Sổ.
Giữ vững tín ngưỡng Phật Giáo chân chánh
và dũng mãnh đi tới trên con đường phụng sự đất nước và dân
tộc Việt Nam.
đó là nhật
lịnh hùng tráng của Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ.
Giữ vững tín ngưỡng Phật Giáo chân chánh
và tấn tới trên con đường từ bi, trí tuệ, giải thoát, quyết
chí tu hành đắc thành đạo quả hầu dắt dìu bá tánh, cứu độ
chúng sanh.
đó là di chúc
thiêng liêng của Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ.
Từ Thất Sơn, ông đã nhìn thấy Hy Mã Lạp
Sơn.
Từ Cửu Long, ông đã thấy sông Hằng.
ông
đã thuyết pháp, hành động trong bónh anh linh của Chư Phật.
Chư Phật mười phương, chư Bồ Tát muôn
triệu thế giới và chư Tổ, Thánh Tăng và tiền nhân Việt Nam bao
thế hệ đã hiển hiện trong Huỳnh Phú Sổ. Cũng như trong mỗi
chúng ta đã có sẵn chủng tử Phật tánh, trong mỗi tăng, ni,
phật tử Việt Nam đang và sẽ sống trên thế gian đều có sẵn hình
bóng, nguyện lực, thần trí, hùng tâm của chư Phật, Bồ Tát, chư
Tổ, Thánh Tăng và tiền nhân bao thời đại.
Chỉ riêng phần luận về Chánh Tinh Tấn, bồ
tát Huỳnh Phú Sổ đã rất gần gủi, nhưng về đạo tâm, và hùng
lực, có phần siêu vượt hơn, bồ tát Mã Minh, tác giả vĩ đại của
một tác phẩm vĩ đại Luận
đại Thừa Khởi
Tín trong phần luận về Thế nào là tu hành môn Tinh Tấn sau
đây, theo bản dịch của Cao Hữu
đính:
"đối
với các việc lành, lòng không do dự lùi bước, ý chí kiên
cường, xa lìa khiếp nhược, phải nhớ nghĩ rằng từ quá khứ lâu
xa đến giờ, mình đã luống chịu quá nhiều đau khổ, hết thân tâm
này qua thân tâm khác, mà chảng ích gì. Cho nên giờ đây, phải
lo siêng tu các công đức lợi mình lợi người, để chóng thoát
khổ... Cần phải dõng mãnh siêng năng, ngày đêm sáu thời, lễ
bái chư Phật, thành tâm sám hối, khuyến thỉnh chư Phật thuyết
pháp, tùy hỷ công đức và hồi hướng công đức về nơi quá Giác,
thường xuyên như vậy, không ngưng không bỏ, thời nghiệp chướng
mới tiêu tan và căn lành mới tăng trưởng".
Không những kế thừa và xiển dương hoàn mỹ
những tinh hoa của chư Tổ Phật Giáo Việt Nam như Khuông Việt,
Vạn Hạnh, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung... Huỳnh
Phú Sổ còn tiếp nối và phát huy tinh thần Phật Giáo đại thừa
vào thời đại, từ suối nguồn xa xưa của chư Tổ Phật Giáo thế
giới như Duy Ma Cật, Mã Minh, Long Thọ, Thế Thân, Vô Trước,
Huệ Năng, Nhật Liên...
Nói đến giáo lý Phật Giáo căn bản mà không
đề cập đến Thập Nhị Nhân Duyên thì đó là điều thiếu sót. Tuy
nhiên giáo lý thập nhị nhân duyên đã là rất cao, phải có trình
độ đại học hay căn cơ tu hành từ nhiều kiếp may mới thấu hiểu
tường tận. Ngay từ khi 23 tuổi, năm 1942, Huỳnh Phú Sổ đã
thuyết pháp về Thập Nhị Nhân Duyên một cách đơn giản, dễ hiểu
như sau cho các tín đồ của
ông, là những
nông dân chất phác. ông
tạm dùng một số từ ngữ thông dụng trong nhân gian như linh
hồn, bản ngã để nói cho dễ hiểu, thật ra trong Phật Giáo không
chấp nhận có linh hồn vĩnh cửu hay bản ngã trường tồn mà chỉ
chấp nhận có "danh" và "sắc", tức Tâm và thân xác là hai thành
phần cấu tạo con người và "thức tái sanh", theo giáo lý nguyên
thủy hay A lại gia thức, theo
đại Thừa. Chất
chứa tất cả thiện nghiệp và ác nghiệp, là cái đưa đến sự tái
sinh, luân hồi. Hay ông dùng một số chữ không còn thông dụng
ngày nay như bảo thủ (nắm giữ) hay xúc động (cảm xúc).
Thập Nhị Nhơn
Duyên
Nhơn duyên thứ
nhất phát kởi từ màn vô minh mà che lấp bản ngã (linh hồn) nên
làm cho người phải tăm tối mê say, gây tạo ác nghiệp, chịu nẻo
luân hồi thống khổ.
đây là 12
duyên sanh: Vô minh sanh hành, hành sanh thức, thức sanh danh
sắc, danh sắc sanh lục nhập, lục nhập sanh xúc động, xúc động
sanh thọ cảm, thọ cảm sanh ái, ái sanh bảo thủ, bảo thủ sanh
hữu, hữu sanh sanh, sanh sanh lão tử.
đó là 12 duyên
sanh, nó dắt đi từ kiếp nầy đến kiếp kia không có dứt. Cái vô
minh nghĩa là tối tăm mê dốt, từ hồi vô thỉ. Có mê dốt ta mới
hành động, rồi hành động ấy sanh ra muôn pháp, nên mới có cái