Chương Bảy: Con đường hành động Phật Giáo qua hành trạng của
Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ.
Dù Huỳnh Phú Sổ là một triết gia, theo The
New Encyclopaedia Britannica, dù
ông là một nhà
tư tưởng đã đề cập đến nhiều lãnh vực một cách thông thái,
uyên bác, dù ông
là một nhà Phật học đã đưa ra được cả một hệ thống tư tưởng
Phật học bao quát, mới lạ, làm nền tảng cho một cuộc cách mạng
Phật giáo, có giá trị thời đại hơn hẳn các nhà Phật học đương
thời, nhưng Huỳnh Phú Sổ chính là một nhà hành động hơn là một
lý thuyết gia.
Những thành tựu của
ông, qua tư
tưởng, thật ra không đáng kể so với những thành tựu qua hành
động của ông.
Vắng bóng năm 27 tuổi, tính ra
ông chỉ hoạt
động có 7 năm, và phần lớn của thời gian ngắn ngủi này,
ông đã bị thực
dân Pháp quản thúc hay phải ẩn dạng cô lập không tiếp xúc với
ai, hay phải kháng chiến trong bưng biền, rừng núi, và một
phần lớn thời gian khác là phải đối phó với thời cuộc, họp
hành với các tổ chức chống Pháp, giải quyết những việc hàng
ngày của các đoàn thể tôn giáo và chính trị mà
ông sáng lập và
lãnh đạo, nhưng sự nghiệp
ông để lại rất
lớn lao, ít người sánh kịp.
Có thể nói, trong hàng ngũ các lực lượng
dân tộc và dân chủ Việt Nam, không có một người Việt Nam nào
trong thế kỷ này có một sự nghiệp lớn lao, ngang tầm với sự
nghiệp của ông. Qua việc phác họa, trình bày các tổ chức, đoàn
thể mà ông đã sáng lập và lãnh đạo, với tư cách một lãnh tụ
Phật giáo, và đồng thời là một lãnh tụ chính trị, ta sẽ thấy
rõ con đường hành động Phật giáo. Con đường hành động này
không những khẩn cấp, cần thiết trong giai đoạn lịch sử của
thập niên 40, mà còn có giá trị lâu dài cho nhiều thế hệ Phật
tử Việt Nam hôm nay và mai sau.
A) Tranh đấu
cho độc lập, thống nhất của đất nước, cho hòa giải và đoàn kết
của dân tộc.
Hai tổ chức đầu tiên mà Huỳnh Phú Sổ thành
lập, tham gia và lãnh đạo là Việt Nam
độc Lập Vận
động Hội và
Việt Nam ái
Quốc đảng.
ái quốc, và
tranh thủ độc lập, đó là tấm lòng và ưu tư hàng đầu của mọi
người dân Việt Nam trong thời đó. Có thể nói suốt cả thời gian
công khai hoạt động vì nước, từ năm 1945 đến khi bị ám hại năm
1947, yêu nước và tranh đấu cho nền độc lập của đất nước là
động lực duy nhất và mục đích duy nhất của
ông.
đầu
năm 1945, từ Sài gòn, sau khi quân đội Nhật đảo chánh Thực Dân
Pháp vào ngày 10 tháng 3, chiếm giữ chính quyền trên toàn cõi
Việt Nam và gông cùm Thực Dân được nới lỏng phần nào, ông ban
hành huấn lịnh sau đây:
"Hỡi tất cả
thiện nam tín nữ. Ngày mà chúng ta chịu khổ dưới gót giày của
người Pháp và bọn quan lại hung tàn đã vừa qua. Kể từ nay tôn
giáo của chúng ta sẽ được tự do truyền bá. Vậy tôi nhân cơ hội
này tỏ cho các người được hiểu rằng:
đạo Phật là đạo
từ bi bác ái, dĩ đức háo sanh khoan hồng đại độ, tuy tình thế
đổi thay chớ tấm lòng nhơn chẳng đổi. Vậy hãi coi toàn dân
cũng như anh em một nhà, mong họ liên kết với chúng ta để kiến
thiết quê hương cùng nền đạo nghĩa. Những kẻ bạo tàn từ trước
đến giờ nay hãy ăn năn giác ngộ thì hãy dĩ đức nhiêu dung tội
trạng của họ, để sau này quốc gia định đoạt, còn mình chỉ
khuyên họ trở lại đường lành, chớ chẳng nên làm điều gì thái
quá mà động đến từ tâm của Chư Phật. Mong các người hãy tuân
theo huấn lệnh này".
80 năm Thực Dân Pháp và các phần tử tay sai
thống trị, bóc lột dã man nhân dân Việt Nam, chúng đã gây biết
bao tội ác, bao thảm cảnh cho dân tộc, thế nhưng với tấm lòng
từ bi của người Phật tử, với viễn kiến nhìn xa thấy rộng nhân
ái, khoan dung và khôn ngoan của nhà chính trị có trách nhiệm,
ông đã khuyên mọi người nên xóa bỏ hận thù, hòa giải và đoàn
kết dân tộc.
Nạn nội chiến nồi da xáo thịt, lẫn nạn
chiến tranh tái xâm lăng của Thực Dân và sự chia cắt, xé nát
dân tộc, đưa toàn dân vào biển máu lửa, hận thù, tàn sát nhau
như những con thú rừng hoang dại, man rợ và sự kiệt quệ, đói
khổ, chậm tiến của đồng bào suốt gần 50 năm trời sau đó, phải
chăng một phần lớn là người Việt Nam, nhất là những người lãnh
đạo, đã thiếu từ tâm và sự khôn ngoan chính trị này? Vì họ đã
trả thù, chém giết bừa bãi, thiếu khoan hồng độ lượng theo
truyền thống nhân nghĩa của Việt Nam. Những lời kêu gọi lấy
tình thương xóa bỏ hận thù để đoàn kết và xây dựng quê hương
này làm ta nghĩ ngay đến thái độ nhân từ, khôn ngoan của các
vị quân vương - Phật tử đời Trần.
Sau lời huấn lịnh trên, ông đưa ra một lời
gọi khác tiếp tục kêu gọi hòa giải, đoàn kết để tranh thủ độc
lập thật sự, sau khi vua Bảo đại xé bỏ các hiệp ước với Thực
Dân Pháp và tuyên bố Việt Nam độc lập trên danh nghĩa, thực
chất là vẫn lệ thuộc vào quân đội Nhật:
"Hỡi đồng
bào Việt Nam. Nước nhà đã tuyên bố độc lập. Kẻ thù giết cho
ông chúng ta hầu hết đã bị giam cầm. Giờ đây, bổn phận của mỗi
người Việt Nam cần phải làm thế nào cho sự độc lập hoàn toàn
của nước nhà chóng thực hiện, vậy tôi khuyên tất cả đồng bào
muốn tỏ ra xứng đáng với một người dân một nước tự do thì
chúng ta hãy nên đoàn kết chặt chẽ cùng nhau, hãy quên hết
những mối thù hiềm ganh ghét, đừng bày ra cái họa nồi da xáo
thịt khiến ngoại nhân khinh bỉ một dân tộc như dân tộc Việt
Nam ta đã có nhiều tầm lòng nhân hậu và những trang sử vẻ
vang...
Lo trả thù riêng,
đốt phá nhà cửa, hoặc trộm cướp sát nhân, làm rối trật tự, có
hại cho sự kiến thiết quốc gia. Kẻ yêu nước không nên làm...
Bình tỉnh hiệp tác chặt chẽ với nhà đương cuộc, giữ sự an ninh
cho dân chú,g có lợi cho sự kiến thiết quốc gia. Kẻ yêu
nước nên làm. Nhân danh Việt Nam độc Lập Vận động Hội kiêm
Cố Vấn Danh Dự Việt Nam ái Quốc đảng,
ký tên Hòa Hảo,
Sài Gòn, tháng 3
ất Dậu (1945)".
Một thanh niên 25 đã có những lời kêu gọi
nhân từ, đức độ, trí tuệ và viễn kiến xa rộng như vậy sao?
Phải chăng bằng tuệ giác, ông đã tiên tri Việt Nam sẽ có nạn
huynh đệ tương tàn đẫm máu, anh em ruột thịt bắn giết nhau như
loài dã thú hết sức bi thương, đau đớn, nên mới thốt lên những
lời thống thiết như thế?
Ngoài ra, ông còn viết một lá thư riêng gởi
cho các tín đồ nhấn mạnh không được trả thù. Lời lẽ hết sức
mạnh mẽ, nghiêm khắc:
"Lời riêng
cho bổn đạo.
Tôi lấy làm chẳng
vui mà thấy một vài người trong đạo và ngoài đời nhận lấy cái
danh từ của tôi mà làm một ít cử chỉ trả thù không có xứng
đáng với tấm lòng đạo đức từ bi: trước kia chúng nó hà khắc
ta, chúng đành, ngày nay ta hà khắc lại, sao đành. Vì lòng
chúng nó đầy dự hung tàn, còn lòng ta đầy nhân ái. Nên kể từ
nay, kẻ nào trong đạo còn làm điều gì không có mạng lịnh sẽ bị
loại bỏ ra khỏi đạo và giao nhà đương cuộc xử một cách gắt
gao.
Ký tên: Hòa Hảo,
Sài Gòn, tháng 2
ất Dậu (1945)".
Với lòng yêu nước thiết tha, với một ý thức
sáng rực về một vận hội mới đang đến với quê hương và đồng
thời những nguy cơ mới đang rình rập, đe dọa tổ quốc, với một
quyết tâm tranh thủ cho kỳ được tự do độc lập hoàn toàn, dù
không ở vị thế lãnh đạo như vua Bảo đại, như Thủ Tướng Trần
Trọng Kim lúc đó và trước cả Chủ Tịch Hồ Chí Minh, ông cất cao
lời hiệu triệu toàn dân hãy dốc toàn lực đoàn kết hy sinh tất
cả, hiến dâng tất cả cho đất nước. Như sóng nước sông Hồng,
sông Hương, sông Cửu Long trong mùa mưa lũ, như sóng thủy
triều của biển Thái Bình trong mùa biển động, ông để cho tấm
lòng yêu nước nóng hổi, cho quyết tâm giành lại độc lập, tự do
tuôn trào cuồn cuồn:
"Hiệu triệu.
Hỡi đồng bào Việt
Nam. Vì một cái chánh sách sai lầm của tiền nhân ta mà đế quốc
Pháp có cơ hội tốt để chiếm đoạt lãnh thổ nước Việt Nam. Gần
ngót trăm năm nay, đồng bào ta trải biết bao cay đắng: lớp kẻ
thù giày đạp, lớp quan lại tham ô, vì thế nên người dân Việt
Nam gách vác biết bao nhiêu sưu thuế nặng nề. Kẻ thù đã lợi
dụng chánh sách ngu dân để nhồi sọ quần chúng, gây mầm chia rẽ
Bắc, Nam, Trung, phá rối sự đoàn kết, hầu mong cho cuộc đô hộ
được vĩnh viễn trên giải non sông đất nước mà Tổ Tiên ta phải
phí biết bao máu đào mới gần dựng được. Vả lại từ trước cho
đến nay các bực anh hùng, các nhà chí sĩ khắp ba kỳ đã bao
phen vùng vẫy chống lại quân thù mng gầy dựng lại nền độc lập
cho quê hương đất Việt.
Nhưng than ôi. Chỉ vì
thiếu khí giới tối tân, chỉ vì sơ đường luyện tập mà giọt máu
anh hùng đành hòa với bao nhiêu giọt lệ, khóc phúc sa cơ, để
lại cho người đồng thời và cho đoàn hậu thế muôn vàn tiếc
thương ân hận. Cách đây bốn năm, đế quốc Pháp đã tan tành gãy
đổ... Giai đoạn đấu tranh đã đến hồi quyết liệt...
Hỡi đồng bào Việt
Nam. Chúng ta đã bước và đang bước đến một khúc nghiêm trọng
trên lịch sử. Giờ đây ta đã có thêm nhiều đặc quyền lo lắng
đến cái giang sơn gấm vóc của Tổ Tiên ta di truyền lại. Vận
động cuộc độc lập. Vận động cuộc độc lập. Phải, toàn
quốc phải liên hiệp vận động cho cuộc độc lập.
đấy là cái chủ
trương duy nhất của Việt Nam
độc Lập Vận
động Hội. Việt
Nam Hoàn Toàn Tự Do độc
Lập. đấy là cái
khẩu hiệu duy nhất của người Việt Nam.
Hỡi các đồng chí
thân yêu, từ khi quốc gia bị khuynh đảo đến nay, chúng ta chỉ
hợp từng đoàn thể nhỏ hoặc độc thân đấu tranh và phải bao phen
thất bại một cách đắng cay chỉ vì thiếu tinh thần đoàn kết,
thiếu sức bền bỉ dẻo dai để chống lại kẻ xâm lăng vô cùng tàn
bạo. Thời giờ này ta đã học hỏi được nhiều rồi, ta đã thâu
thập kinh nghiệm khá hơn rồi, vậy ta nên đồng nhận chân ý thức
như nhau, nắm tay nhau quả quyết mạnh dạn tiến bước trên con
đường tranh đấu.
Hỡi các bạn trí
thức Việt Nam, các bạn có bị cái thứ văn minh cặn bã cám dỗ
chăng? Các bạn có quên tinh thần quốc gia hùng dũng của Việt
Nam chăng? Không, không, chúng tôi chắc chắn hẳn rằng không
vậy. Các bạn cũng biết cái cặn bã của nền văn minh Pháp nhồi
nắn rất nhiều đồng bào ta trở thành những bộ máy của bọn xâm
lăng. Các bạn đã ôn nhuần những trang lịch sử vẻ vang mà từ
ngàn xưa đến giờ tiền nhân ta viết ra bằng tâm cơ và bằng
huyết hoãn, vẫn còn đầm đìa trên mặt giấy. Vậy ngày nay, các
bạn nên lợi dụng thời cơ thuận tiện để đem tất cả trí năng,
đức hạnh tham gia vào Hội, lãnh đạo nhân dân hầu huấn luyện
cho nhau tinh thần quốc gia kiên cố.
Hỡi các bạn thanh
niên... Các bạn hãy để tinh thần tráng kiện ấy vùa giúp vào
công cuộc kiến thiết nền độc lập cho giang sơn đất Việt...
Hỡi các cụ đồ Nho,
hỡi các nhà sư. Các cụ đồ Nho. Từ trước đến nay, luôn luôn các
cụ vẫn hoài bảo một nhiệt vọng cho sự độc lập của nước Việt
Nam, luôn luôn các cụ vẫn nuôn nấng một tinh thần quốc gia
cùng ngày càng mạnh mẽ. Cái ngày mà các cụ mong mỏi, thiết tha
đã đến và ngày giờ này các cụ rất khoan khoái được thấy cái
nguồn sanh lực của nước Việt Nam tái phát. Bao nhiêu tiết tháo
của thời xưa vẫn còn in sâu trong tâm não, bao nhiêu thành
tích vẻ vang hùng tráng của thời xưa đã chép ra mà nét chữ vẫn
chưa mờ, còn lưu lại nơi trí óc các cụ những kỷ niệm liệt
oanh, rực rỡ. Hỡi các cụ đồ Nho, hãy tham gia vào phong trào
mới của nước nhà để khích lệ nhân tâm.
Các bực Tăng Sư,
Thiền đức. Các cụ có nhớ chăng? Trên lịch sử Việt Nam thời xưa
nhà đại đức Khuông Việt dầu khoác áo cà sa, rời miền tục lụy,
thế mà khi quốc gia hữu sự cũng ra tay gánh bác non sông. Từ
khi người Pháp qua chiếm đất ta, bề ngoài gọi rằng cho ta tự
do tín ngưỡng, nhưng bên trong dùng đủ mọi cách âm thầm chia
rẽ, phá hoại cho tín đồ nhà Phật không có sức đoàn kết chấn
hưng hầu bài trừ cái lưu lệ mê tín dị đoan.
đã vậy lại
không có cơ quan tuyên truyền thống nhất, cũng chẳng có trường
chung đào luyện tăng sư. Các cụ nên biết: hễ nước mất thì cơ
sở của đạo phải bị lấp vùi, nước còn nền đạo được phát khai
rực rỡ. Chúng tôi mong ước các cụ noi gương đại sư Khuông Việt
tự mình gia nhạp VNđLVđH để làm gương, hay là để khuyến khích
các môn nhơn đệ tử mau tham gia vào phng trào mới hầu chấn
chỉnh quốc gia ta. Khi nào nước nhà được cường thạnh, đạo Phật
mới đặng khuếch trương tự do hầu gieo rắc tư tưởng Thiện Hòa
và tinh thần Từ Bi, Bác
ái khắp bàng
nhân bá tánh...
Hỡi các nhà thương
mãi, nông gia, thợ thuyền, dưới sự kềm chế của bọn xâm lăng
nền thương mãi quốc gia bị đắm chìm kiệt quệ, cơ hồ bị tay
người ngoại quốc chiếm hẳn. Vì thế dưới sự chi phối của bọn đế
quốc Pháp, các nền kinh tế, thương mãi của người Nam không có
cơ ngóc đầu dậy nổi. Các nền tiểu công nghệ, thủ công nghệ bị
uy hiếp nặng nề cho đến nỗi những nhà tiểu tư sản đều bị vô
sản hóa, lâm vào một tình trạng vô cùng lầm than khổ não.
Thương gia Việt Nam đành bó tay không phương giải cứu. Muốn
cho nền thương mãi đặng phát triển, thương gia đặng thạnh
vượng, phi trừ sự độc lập của nước nhà ra chẳng có cái gì có
thể vãn cứu.
Các nông gia bị
cái áp bức bất công của bọn thực dân người Pháp và những kẻ
quan lại kiêm địa chủ hiếp bức đủ mọi phương diện, đều bị bốc
lột rất quá đáng... Kẻ làm ruộng vì vậy mà nghèo hèn đói
rách... 80 năm nay nghề nông ta vẫn còn nằm trong vòng ấu trĩ
phôi thai với những khí cụ của ông bà ta để lại... Nền kỷ nghệ
trong xứ... bị ngăn cấm khiến cho sự nhu cầu của dân chúng
thiếu thốn mọi bề, từ một cái kim may cho đến một cơ khí tinh
xảo... Thợ thuyền nhơn công cũng ở dưới sự bạc đãi, bức bách
như nông dân, họ sống cuộc đời luôn luôn thiếu kém và vẫn rụt
rè khép nép với bọn chủ xưởng người Tây, vẻ mặt đầy hung ác.
Nhiều khi lắm người nhân công bị hành hạ tàn nhẫn, giết chết
biệt thây, hoặc bị sốt rét hút hết méu me nơi cánh rừng cao su
bát ngát, hoặc chết dưới những hầm mỏ âm u mà nào ai có mở
cuộc điều tra, nào ai dám mở lời kêu ca thống trách và luật
pháp vẫn bỏ mặc tình, chẳng một điều gì chở che bảo bọc, ấy
cũng tại nguyên nhân nào? Nếu chẳng phải tại nước mất nhà tan
nên dám người vong quốc ấy phải ngậm ngùi với biết bao điều ân
hận.
Hỡi các thương
gia, nông dân, thợ thuyền. Cố gắng lên, hùng mạnh lên. Và liên
kết cổ động tranh đấu cho nền độc lập hoàn toàn của quốc gia
hầu vãn cứu đồng bào mình cùng quyền lợi mình... Mỗi người
công dân Việt Nam đều phải nghĩ đến xứ sở mình, đến tương lai
đất nước mình, đến sự sống còn của dân tộc mình, vì mặc dầu đã
bị triệt hạ trên giải đất đông Dương,
đế Quốc Pháp
bên kia trời cũng vẫn còn hoài bảo cái mộng tưởng khôi phục
lại quyền chủ trị, vậy thì đồng bào hãy cố gắng lên. Chúng tôi
mong rằng các bậc lão thành, các hàng trí thức, các thanh niên
nam nữ, các đồng bào vì đất nước chung, vì mục đích chung, hợp
sức cùng nhau để đạt cái nhiệt vọng tối đại tối cao thì tiền
nhân ta mới đành ngậm cười nơi chín suối. Việt Nam
độc Lập Vận
động Hội ủng hộ
triệt để các đảng ái quốc chân chính, bài trừ triệt để bọn mọt
nước sâu dân.
Saigon, tháng 3
dl. 1945".
Thế rồi từ đó Huỳnh Phú Sổ, Giáo Chủ PGHH,
xông pha vào cuộc đời gió bụi, hy sinh đấu tranh cho nền độc
lập tự do, trong khi đó có những tu sĩ của các tôn giáo khác,
không những trùm chăn an phận, mà còn cộng tác với quân xâm
lăng cướp nước:
"Tăng sĩ
quyết: chùa am bế cửa,
Tuốt gươm vàng lên
ngựa xông pha.
đền xong nợ
nước thù nhà,
Thiền môn trở gót
Phật đà nam mô
Chừng ấy mới tịnh
vô nhứt vật
Bụi hồng trần rứt
sạch cửa không
Chuông linh ngân
tiếng đại đồng
Ta bà thế giới sắc
không một màu..."
(Bài thơ nhan đề Tặng Thi Sĩ Việt Châu,
xuất khẩu làm trên đường về Sài Gòn sau khi đi khuyến nông ở
Lục Tỉnh, tháng sáu năm 1945).
Trước gần 2 năm lời kêu gọi toàn dân kháng
chiến của chính phủ Hồ Chí Minh, ông đã tiên tri Pháp sẽ xâm
lăng trở lại và kêu gọi mọi người đoàn kết chuẩn bị kháng
chiến. Ngoài ra ông còn sáng tác nhiều thơ văn ái quốc, kêu
gọi thanh niên, phụ nữ và toàn dân cùng đứng lên cứu nước và
giữ nước:
"Hãy tỉnh
giấc hỡi muôn ngàn chiến sĩ
Nhìn thời xưa hùng
vĩ nước nhà ta.
Bắc Nam một giải
san hà
Mồi hôi giọt máu
ông cha tài bồi
Trãi qua cũng lắm
hồi vận bỉ
Rồi anh hùng tráng
sĩ đứng lên
Liều mình đục pháp
xông tên
Tiếng roi lại bình
Ngô sát đát
Sử xanh còn gnào
ngạt hương thơm
Trông phường giá
áo túi cơm
Trông phường quý
tử mà nhờn đi thôi
Nay vận nước đến
hồi thịnh thái
Chí anh hùng ta
hãy noi gương
Một mai nước được
phú cường
Tấm thân tráng sĩ
cột rường nhà Nam"
(Gọi đoàn Tráng
Sĩ)
"Chị em ôi, Bắc
Nam là một
Chị em là rường
cột giống nòi
Dở sử xanh Nam
Việt mà coi
Gương Trưng, Triệu
còn soi muôn thuở...
Chí anh hùng của
khách quần thoa
đâu có kém bực
tu mi nam tử
Sách Thánh Hin
truyền lưu mấy chữ
Thất phu còn trách
nhiệm với non sông
Cả tiếng kêu bạn
gái má hồng
đem son phấn
điểm tô Tổ Quốc"
(Gọi đoàn Phụ Nữ)
Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha cho nền
độc lập nước nhà, qua các tổ chức yêu nước Việt Nam độc Lập
Vận động Hội,
Việt Nam ái
Quốc đảng, Việt
Minh, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất, Mặt Trận
quốc Gia Liên
Hiệp, Việt Nam Dân Chủ Xã Hội
đảng, Ủy Ban
Hành Chánh Kháng Chiến Nam Bộ, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất
Toàn Quốc, Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ đã đi trong cuộc tranh đấu
máu lửa và đi trước làn tên mũi đạn, với tâm thức, hạnh nguyện
của một Bồ Tát cứu đời.
ông
đi trong truyền thống hành động của Phật giáo Việt Nam và của
nhân dân Việt Nam, sinh phong hùng vĩ của
ông là sinh
phong của các anh hùng, các thiền sư, các thế hệ tăng, ni,
Phật tử Việt Nam, của Lý Nam
đế, Lý Thường
Kiệt, Tuệ Trung, Nguyễn Trãi.
Mùa xuân cuối cùng và ngày tết cuối cùng mà
ông đã hành
hoạt trên quê hương Việt Nam là một mùa xuân trong bưng biền,
chiến đấu chống quân xâm lăng Pháp và là ngày tết trong chiến
khu, đổ máu để giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. Ta hãy
đọc bài thơ Tết ở Chiến Khu sau đây của
ông để nghe
tiếng cười lạc quan, yêu nước yêu đời của một thanh niên vừa
bước qua 26 tuổi, đồng thời là người lãnh tụ tối cao của tất
cả các lực lượng kháng chiến không Cộng Sản tại Nam Bộ và đó
là lực lượng kháng chiến đã liều chết chống quân xâm lăng tại
miền Nam (Lực lượng kháng chiến Việt Minh, lúc đó, sau khi
Trần Văn Giàu bỏ chạy qua Thái Lan, tướng Nguyễn Sơn mới được
cử về thay thế, chỉ lo tái tổ chức, chưa đánh được một trận
lớn nào cả). đây là bài thơ gần cuối cùng của
ông, viết ngày
2/1/1947, chỉ trước bài thơ sau cùng là bài Kỷ Niệm Rừng Chà
Là viết vào tháng 2/47, chỉ vài tháng sau đó, trên đường về
miền Tây hòa giải những sự xung đột giữa PGHH và Việt Minh và
để xây dựng sự đoàn kết dân tộc để chống kẻ thù chung như
nguyện vọng chân thành, mãnh liệt của
ông,
ông đã bị một
cán bộ Việt Minh ám hại khi bất chấp nguy hiểm tham dự một
phiên họp hòa giải theo lời mời của đại diện Việt minh, trong
đêm 16/4/1947.
"Tặng bạn ngày
xuân chén rượu nồng
Uống rồi vùng vẫy
khắp Tây đông
đem nguồn sống
mới cho nhơn loại
để tiến, tiến
lên cõi đại đồng
Rượu xuân càng
nhấp càng say
Gió xuân càng thổi
thì tài càng tăng
Ngày tết năm nay ở
chiến khu
Bưng biền gió lốc
tiếng vi vu
Xa xa súng nổ thay
trừ tịch
Dân Việt còn mang
nặng mối thù
Mối thù nô lệ chưa
trả xong
Pháp tặc còn trên
giống Lạc Hồng
Dùng thói dã man
mưu thống trị
Thì ta quyết chiến
dễ nào không
Dễ nào không dám
gắng hy sinh
Giữ vững non sông
đất nước mình
Tự lập nghìn xưa
gương chói rạng
Anh hùng khởi xuất
chốn dân binh
Dân binh Nam Việt
mấy ai bì?
Không súng, tầm
vong cũng vác đi
Xông lướt trận
tiền ngăn giặc mạnh,
Liều thân cứu nước
lúc lâm nguy
Nước lúc lâm nguy
há đứng nhìn
Lòng mang
đại Nghĩa để
thân khinh
Màu đào xương
trắng phơi đầy nội
Quyết đổi tự do
mới thỏa tình
Thỏa tình được
sống dưới trời đông
Tổ phụ ngày xưa
rất đẹp lòng
Nhìn thấy cháu con
không thẹn mặt,
Từ đây non nước
thoát nguy vong".
Như truyền thống yêu nước anh hùng của nhân
dân Nam Bộ, như các sĩ phu ái quốc, bất khuất của thế hệ
Nguyễn Trung Trực, Trần Văn Thành, Nguyễn
đình Chiểu...
ông thề thà
chết chớ không chịu làm nô lệ và chấp nhận hy sinh tất cả để
giành cho được độc lập:
"ách
nô lệ dân ta đà chán biết
Nên quyết lòng nổi
dậy chống xâm lăng
Chỉ quân Tây thề
một tiếng rằng:
Thà cam chết chớ
không làm dân bị trị...
Chờ cơ hội quét
tan loài xâm lược
Tranh độc lập để
bảo tồn non nước..."
Muốn tự do, độc lập, phải hy sinh đấu
tranh. Tư tưởng yêu nước đại hùng, ađ5i lực của bao thế hệ
tăng, ni, Phật tử Việt Nam và của dân tộc Việt Nam bao thời
đại được thể hiện hùng hồn trong bài "Quyết Rứt Cà Sa" sau
đây:
Quyết Rứt Cà Sa
"Thấy dân thấy
nước nghĩ mà đau
Quyết rứt cà sa
khoát chiến bào
đuổi bọn xâm
lăng gìn đất nước
Ngọn cờ độc lập
phất phơ cao
Ngọn cờ độc lập
phất phơ cao,
Nòi giống Lạc Hồng
hiệp sức nhau.
Tay súng tay gươm
xông trận địa,
Dầu cho giặc mạnh
há lòng nao.
Dầu cho giặc mạnh
há lòng nao,
Nam Việt ngàn xưa
đúc khí hào.
Lúc giặc xâm lăng
mưu thống trị,
Anh hùng đâu sá
cảnh gian lao.
Anh hùng đâu sá
cảnh gian lao,
Chiến tranh giao
phong rưới máu đào.
Miễn đặng bảo tồn
non nước cũ,
Giữ an tánh mạng
cả đồng bào".
Với tôn chỉ "đặt quyền lợi tổ quốc trên tất
cả", với ý thức hòa giải đoàn kết dân tộc, với tinh thần hy
sinh tôn giáo linh thiêng, cho mục tiêu chung cao cả là tự do,
độc lập và thống nhất của Việt Nam, ông đã ra đi chiến đấu
chống quân thù xâm lăng như một chiến sĩ, nhưng đau đớn thay,
có những kẻ đặt quyền lợi của chủa nghĩa, đảng phái cao hơn
quyền lợi của Tổ Quốc, như Trần Văn Giàu, người lãnh đạo Việt
Minh ở Nam Bộ, lại là kẻ cộng tác với giặc Pháp và khởi động
cuộc chiến nồi da xáo thịt khi quyết dùng mọi thủ đoạn, bạo
lực để triệt hạ tất cả những người kháng chiến không Cộng Sản.
Giàu đã ra lịnh thủ tiêu nhiều nhà cách mạng dân tộc và định
ám hại Huỳnh Phú Sổ trong đêm 9/9/1945 khi
ông đang ở trên
đường Miche, Sài Gòn. May rằng ông đã trốn thoát và không bị
bắt và bị thủ tiêu vào lúc đó.
điều
mỉa mai là chính Huỳnh Phú Sổ, ngay sau khi Nhật đảo chánh
Pháp vào đầu năm 1945 đã gợi đại diện là ông Nguyễn Xuân Thiếp
tháp tùnh phái đoàn Nam Bộ đi dự hội nghị Tân Trào của Mặt
Trận Việt Minh, để tiện tiếp xúc, cộng tác với Việt Minh, và
đã được Tổng Bộ Việt Minh thừa nhận ông Huỳnh Phú Sổ là đại
diện Việt Minh tại Nam Bộ. Sự kiện này đã được ông Hoàng Quốc
Việt và ông Cao Hồng Lãnh, hai người đại diện Tổng Bộ Việt
Minh, chính thức xác nhận trong phiên đại hội các đảng phái,
đoàn thể chính trị, tôn giáo miền Nam họp tại Sài Gòn trong
đêm 7/9/1945.
Thế nhưng hai ngày sau, Việt Minh lại định
ám hại Huỳnh Phú Sổ. ông trốn thoát và không hề phản ứng trả
đủa, dù khi đó sau lưng ông đã có hàng trăm ngàn tín đồ trung
kiên, có tinh thần quyết tử, không những thế có người định sám
sát Trần Văn Giàu, ông lại hết sức khuyên can để tránh họa
tương tàn giữa anh em với nhau. ông chỉ tạm lánh mặt, mai danh
ẩn tích ở Bà Rịa, giả dạng làm người Thượng để tránh sự theo
dõi của nhóm Trần Văn Giàu và chờ sự giải quyết của Tổng Bộ
Việt Minh ở ngoài Bắc.
ít có ai có thể ẩn nhẩn, hy sinh cao đẹp
như thế khi bị kẻ nội thù đâm sau lưng ám hại. ông đã tha thứ,
bỏ qua vì quyền lợi tối thượng của Tổ Quốc, vì quyết tâm đoàn
kết chống xâm lăng, giành độc lập, và vì tấm lòng từ bi của
một Phật tử. ông viết những vần thơ đau đớn nhưng vẫn sôi nổi
tinh thần ái quốc cao độ:
"... Nước non tan
vỡ bởi vì đâu?
Riêng một ta mang
nặng khối sầu.
Lòng những hiến
thân mong độc lập,
Nào hay tia họa áp
bên lầu...
Từ ấy lao mình
vượt khốn nguy
Băng rừng lội suối
giả man di.
Ngày mong ải Bắc
oan này giải,
đem sức ra nâng lá
quốc kỳ.
Nhưng khổ càng
mong càng vắng bặt,
Trời Nam tràn ngập
lũ Tây di.
Biết bao đồng chí
phơi xương máu,
Thức giả nhìn nhau
hỏi tội gì?..."
Tàn sát những lực lượng kháng chiến khác
chính kiến, thủ tiêu những nhà ái quốc không Cộng Sản, châm
ngòi cho cảnh nồi da xáo thịt, huynh dệ tương tàn và sau đó là
cuộc nội chiến khốc liệt, rùng rợn, thê thảm nhất của nhân
loại trong thế kỷ 20 và đó là nguyên nhân chính của những thảm
họa trong suốt 50 năm trời mà nhân dân Việt Nam phải gánh
chịu. ai đã
trực tiếp chủ động gây nên những tai họa tầy trời này cho dân
tộc Việt Nam?
Là nạn nhân ngay từ buổi đầu của cường
quyền, bạo lực và độc tài chính trị, theo kiểu Stalin, Huỳnh
Phú Sổ với lòng yêu nước vô bờ và lòng nhân ái vô biên đã thấy
rõ những tai họa của chủ trương độc quyền yêu nước, độc quyền
kháng chiến và giết hại bừa bãi của Cộng Sản Việt Nam, đứa con
nô lệ, cuồng tín của tư tưởng Cộng Sản Stalin. Trần Văn Giàu
tàn sát tất cả các lực lượng kháng chiến quốc gia rồi sau đó
khi quân Pháp tấn công, y bỏ chạy qua tuốt bên Thái Lan. Chỉ
có những kẻ nô lệ ngoại bang, tự đánh mất bản chất nhân ái,
tình tự dân tộc và truyền thống anh hùng, bất khuất của cha
ông mới hành động một cách vô lương tâm, vô đạo đức, vô trách
nhiệm như thế. Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản để mất thành
phải tự sát.
đâm
sau lưng những người đang kháng chiến chống giặc rồi bỏ hết
thành trì cho giặc chiếm đóng để chạy thoát thân, Trần Văn
Giàu và nhóm lãnh đạo Việt Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam lúc
đó đáng bị kết án tội phản quốc. Miền Nam không phải là một
ngoại lệ, tại Hà Nội và các tỉnh miền Bắc, miền Trung cũng đều
như thế: Trong thời điểm 45, 46, Việt Minh và Cộng Sản không
dốc toàn lực kháng chiến chống pháp mà chỉ giành độc quyền
lãnh đạo bằng cách tàn sát, giết hại, thủ tiêu tất cả những
người yêu nước, những lực lượng kháng chiến không Cộng Sản
theo đúng chủ trương bạo lực, khủng bố của Stalin.
Cảnh huynh đệ tương tàn, từ khi mới bùng
nổ do Cộng Sản khởi xướng vào các năm 45, 46, Huỳnh Phú Sổ đã
thấy rõ tất cả những hậu quả tàn khốc của nó, đối với cuộc
kháng chiến trước mắt và cả hàng thập niên sasu đó.
ông, với lòng
yêu nước, yêu đồng bào vô hạn, đã thiết tha lên án và kêu gọi
mọi người hồi tâm, hòa giải và đoàn kết để chống xâm lăng.
"Người đồng đảng
giết người đồng đảng,
Ai Việt Minh,
Cộng Sản là ai?
đương cơn
quyền lợi đắm say,
Anh hùng, chí sĩ
râu mày thế ư?
đường muôn
dặm lời thư một khúc,
Giờ giặc đà tá
túc nhà ta.
Ai ra nưng đỡ
sơn hà?
Ai ra cứu vớt
nước nhà lâm nguy?
Phát Xít sẽ tầm
truy tàn sát,
Không đảng nào
mà thoát tai ương.
Nghĩ càng bực
tức đau thương,
Giết nhau để lợi
cho phường xâm lăng.
(đồng
đảng Tương Tàn,
miền đông, 1946)
Huỳnh Phú Sổ, một thanh niên 25 tuổi,
đương đầu với cả một guồng máy giết người có tính cách quốc tế
và mức độ phi nhân vượt qua sự tưởng tượng của dân tộc Việt
Nam, đã rất đau buồn vì thấy rõ những hành động vô minh, hận
thù, chém giết, vu cáo chỉ làm lợi cho giặc pháp và tay sai
của chúng. Vì những người yêu nước không Cộng Sản tham gia
kháng chiến đều bị Cộng Sản sát hại thì những kẻ sống sót và
còn lực lượng sẽ chỉ là những thế lực tay sai của Pháp, dựa
vào quân xâm lăng để tồn tại và dựa vào chiến tranh để thủ lợi
và phát triển lực lượng. Cho nên chẳng lấy làm lạ khi Pháp rút
đi, những thế lực tay sai này đã lãnh đạo miền Nam trong suốt
20 năm sau đó. Và những lực lượng tôn giáo, chính trị dân tộc,
dân chủ tiếp tục bị đàn áp, tù đày, thủ tiêu, hảm hại...
Nhìn thấy tương lai đen tối đó của quê
hương, ông làm bài "Tự Thán" thật u buồn. Từ chân trời 1945,
ông đã thấy những đám mây đen dày đặt phủ kín non sông cho đến
cuối thế kỷ 20.
"Gió hiu hắt bên
rừng quạnh quẽ,
Nhìn non sông
đượm vẽ tang thương.
Mối tình chủng
loại vấn vương,
Thấy quân xâm
lược hùng cường căm gan.
Vừa toan rút
gươm vàng ngăn giặc,
Bỗng họa đâu
gieo rắc bất kỳ.
Cường quyền một
lũ ngu si,
Oan nầy hận ấy
sử nghi muôn đời.
Truyền khắp nước
muôn lời vu cáo,
Dùng trăm ngàn
thói bạo hiếp dân.
Làm cho trong
nưoơc rẽ phân,
Làm cho giặc Pháp
một lần sướng rang.
Vậy cũng gọi an
bang định quốc,
Rồi rút lui bỏ mất
thành trì.
Giống nòi nở giết
nhau chi?
Bạng duật tương
trì lợi lũ ngư ông.
đoàn hậu tấn
có lòng yêu nước,
Khá nhìn xem gương
trước răn mình.
Riêng ta hai chữ
nhục vinh,
Thoảng cười thế sự
nhân tình quá đen.
Lòng dân chớ khá
xem khinh,
Bạo tàn giết mất
nhân tình thì thua"
(Miền
đông, cuối năm
ất Dậu 1945)
Quân xâm lăng Pháp tái chiếm miền Nam, dù
là người tu hành, Huỳnh Phú Sổ vẫn "rứt áo cà sa khoác chiến
bào", nhưng chủ trương độc tài chính trị, độc quyền yêu nước
và khủng bố, thủ tiêu những người không cùng phe đảng, chính
kiến của Việt Minh, đã làm biết bao người yêu nước phải chết
oan hay phải nghẹn ngào rơi lệ.
"Rứt áo cà sa
khoác chiến bào,
Hiềm vì nghịch
cảnh quá thương đau.
Bên rừng tạm gởi
thân cô quạnh,
Nhìn thấy non sông
suối lệ trào.
Nhín thấy non sông
suối lệ trào,
Lòng nguyền giữ
vững chí thanh cao.
Ai người mãi quốc
cầu vinh nhỉ?
Hậu thế muôn thu
xét thử nào?
Hậu thế muôn thu
xét thử nào?
Lòng này yêu nước
biết là bao,
Vì ai gieo rắc
điều hồ mị.
đành ngó non
sông nhuộm máu đào,
Thời cơ độc nhất
cứu đồng bào.
Muôn ngàn chiến sĩ
chờ ra trận,
Bỗng vướng gông
cùm chốn ngục lao.
(Riêng Tôi, miền
đông, đầu năm
1946)
Dù bị giết hại, bị bôi nhọ bởi "kẻ độc
tài', nhưng Huỳnh Phú Sổ vẫn không ngừng tha thứ, không ngừng
kêu gọi hòa giải và đoàn kết mọi người Việt Nam.
đây là hành
động của người thấm nhuần tinh thần từ bi của đạo Phật, và
cũng là hành động của người lãnh đạo có đức độ và lòng nhân
ái:
"Hãy tỉnh giấc hỡi
muôn ngàn chiến sĩ,
Mở lòng ra thương
nghĩ sanh linh.
đồng bào ai nỡ
dứt tình,
Mà đem chém giết
để mình an vui.
Dù lúc trước nếm
mùi cay đắng,
Kẻ độc tài đem
tạng cho ta.
Sau này tòa án
nước nhà,
Sẽ đem kẻ ấy mà
gia tội hình.
Lúc bây giờ muôn
binh xâm lược,
đang đạp vày
non nước Việt Nam.
Thù riêng muôn vạn
cho cam,
Cũng nên gạt bỏ để
làm nghĩa công.
Khắp Bắc Nam Lạc
Hồng một giống,
Tha thứ nhau để
sống cùng nhau.
Quý nhau từng giọt
máu đào,
để đem máu ấy tưới
vào địch quân.
đấng
anh hùng vang lừng bốn bể,
Các sắc dân đều nể đều vì.
đồng
bào nở giết nhau chi,
Bạng duật tương trì lợi lũ ngư
ông.
Hỡi những kẻ có lòng yêu nước,
Nghe lời khuyên tỉnh được giấc
mê.
Anh em lớn nhỏ
quay về,
Hiệp nhau một khối
chớ hề phân ly.
đả đảo bọn Nam
Kỳ nô lệ,
Kiếp cúi lòn thế
hệ qua rồi.
Lời vàng kêu gọi
khắp nơi,
Anh em chiến sĩ
nhớ lời ta khuyên"
(Tiếng Chuông Cảnh
Tỉnh, miền đông, đầu năm 1946).
Tổ chức chính trị đầu tiên
ông thành lập
là Việt Nam độc
Lập Vận động
Hội, hay tham gia yểm trợ, như là cố vấn danh dự, như Việt Nam
ái Quốc
đảng chỉ được
công khai hoạt động một thời gian ngắn, trong vài tháng, sau
đó, do nhu cầu thời cuộc, phải hòa tan vào các tập hợp lớn
hơn.
Ngay sau khi Nhật đảo chánh Pháp, Huỳnh Phú
sổ trở về Hậu Giang củng cố PGHH và thành lập hệ thống Bảo An
tại các vùng nông thôn miền Tây Nam phần.
đây là tổ chức
quân sự của PGHH. Sau đó, vào tháng 8/ 45, Nhật đầu hàng,
ông, thay mặt
PGHH, cùng với các tôn giáo, đoàn thể, tổ chức yêu nước khác
tại miền Nam Cao đài,
Việt Nam Quốc Dân đảng,
Việt Nam Quốc Gia độc
Lập đảng,
đại Việt...
thành lập một lực lượng chính trị - quân sự quan trọng tại
miền Nam, là Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất, đoàn thể đứng ra tổ
chức một cuộc biểu tình vĩ đại đầu tiên tại Việt Nam với
200.000 người tham dự vào ngày 21/8/1945 và thành lập bốn sư
đoàn dân quân cách mạng: đệ nhất sư đoàn do lực lượng Bình
Xuyên đảm trách thành lập, đệ nhị sư doàn do Cao
đài thành lập,
đệ tam sư đoàn do Việt Nam Quốc Dân
đảng thành lập
và đệ tứ sư đoàn do Phật Giáo Hòa Hảo thành lập.
Tuy có lực lượng quần chúng và lực lượng
quân sự nhưng Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất đã không cướp chính
quyền trong cuộc biểu tình vĩ đại ngày 21/8/1945 Và chỉ bốn
ngày sau, chính quyền, bị bỏ trống vì Pháp đã bị Nhật lật đổ,
Nhật đã đầu hàng, rồi chính quyền Việt Nam đương nhiệm là
chính phủ Trần Trọng Kim đ4 từ chức, đã bị Việt
minh cướp lấy
bằng một cuộc biểu tình và một bản thông cáo liệt kê danh sách
của 9 ủy viên thuộc Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ Lâm Thời, gọi tắc
là Lâm Ủy Hành Chánh, trong đó có 8 ủy viên thuộc đảng Cộng
Sản hay các tổ chức ngoại vi của Cộng Sản và chỉ một người độc
lập. Trần Văn Giàu là chủ tịch kiêm ủy trưởng quân sự của
chính quyền lâm thời này tại miền Nam. Thế là tất cả các tôn
giáo, đảng phái, tổ chức, đoàn thể yêu nước tại miền Nam lúc
đó bị ở thế ngoài chính quyền, thế đối lập với chính quyền và
bị tiêu diệt. Và đây là điều không ai ngờ đến, mọi người yêu
nước đều có thiện chí cộng tác, đoàn kết để chống kẻ thù chung
không ai nghĩ đến chức tước, địa vị, quyền lợi các nhân phe
đảng riêng tư.
Tâm trạng chung cũng là tâm trạng của
Nguyễn Thái Học khi Việt Nam Quốc Dân
đảng chuẩn bị
khởi nghĩa, ông nhận được báo cáo là các đảng viên Cộng Sản đã
mật báo cho Thực Dân Pháp các hoạt động của đảng ông, ông đã
đập tay xuống bàn nói: "Tôi không tin những người anh em Cộng
Sản lại muốn ám hại chúng ta". Chính trị truyền thống Việt Nam
đã hoàn toàn bị đảo lộn với sự du nhập vào Việt Nam của chủ
nghĩa và đảng Cộng Sản, lấy nguyên tắc độc quyền chính trị và
tiêu diệt đối lập chính trị làm mục tiêu chính trị quan trọng
nhất. Nguyên tắc bá đạo này về sau được anh em Ngô đình Diệm,
Nhu và Cẩn, cũng là những kẻ bị đầu độc bởi một ý thức hệ cực
đoan, cuồng tín, bất khoan dung khác của Tây Phương, triệt để
áp dụng để tiêu diệt đối lập và nắm độc quyền lãnh đạo quốc
gia.
Các hoạt động và các tổ chức Huỳnh Phú Sổ
tham gia trong các năm 1945, 46, 47 như Mặt Trận Quốc Gia
Thống Nhất, Việt Minh, Mặt Trận quốc Gia Liên Hiệp... đều
không đi ngoài mục đích tranh đấu cho sự độc lập, thống nhất
của Việt Nam, hy sinh tất cả cho sự hòa giải và đoàn kết dân
tộc. Như ông, tuy là Giáo Chủ một tôn giáo và đã từng làm Chủ
Tịch của Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp, quy tụ tất cả các lực
lượng kháng chiến chống Pháp lúc đó tại miền Nam, trong đó có
cả Việt Minh, nhưng về sau ông đã "tham chính" với một chức vụ
rất khiêm tốn là "Ủy Viên đặc Biệt" của Ủy Ban Hành Chánh
Kháng Chiến Nam Bộ (do Việt Minh lãnh đạo), việc "tham chính"
rất nhún nhường này chỉ nhằm mục đích tạo sự hòa giải và đoàn
kết để chống Pháp. Trong khi đó, cùng thời, Giám Mục Lê Hữu Từ
cũng "tham chính" với chức vụ "Cố Vấn Chính Phủ" trung ương,
tức chính phủ Hồ Chí Minh. Việc "tham chính" này của Huỳnh Phú
Sổ có một ý nghĩa hòa giải và đoàn kết rất lớn lao nếu ta biết
rằng chính ông đã bị Việt Minh mưu hại, chính em ruột của ông
và các tín đồ thân tín nhất của ông bị xử tử tại sân vận động
Cần Thơ, chính các đồng chí thân thiết nhất của ông bị Việt
Minh sát hại hàng loạt.
Thế nhưng, mãi cho đến 50 năm sau của thời
điểm 45 và 20 năm sau của thời điểm 75, ngày hôm nay, năm
1995, những người Cộng Sản giáo điều vẫn không một chút xúc
động, hồi tâm trước thiện chí hòa giải, đoàn kết tột cùng của
ông và cho mãi đến hôm nay, họ vẫn cấm chỉ Phật Giáo Hòa Hảo,
một tôn giáo đặc thù Việt Nam, kết tinh trong sáng của truyền
thống văn hóa, đạo đức Việt Nam, với một vị Giáo Chủ tràn đầy
lòng yêu nước, tinh thần nhân ái, khoan dung, hòa giải, đoàn
kết dân tộc, sinh hoạt như một tôn giáo bình đẳng tại Việt
Nam, với một Giáo Hội hợp pháp như các tôn giáo khác, trong
khi họ vẫn cho phép Thiên Chúa giáo, một tôn giáo Tây Phương
cấu kết chặt chẽ với Thực Dân Pháp suốt hơn 80 năm trời, được
tự do sinh hoạt, có một Giáo Hội hợp pháp, và nhất là giáo hội
này được hưởng nhiều đặc quyền mà tất cả các tôn giáo khác tại
Việt Nam, kể cả Phật Giáo, đều không có.
B/ Nổ lực đoàn
kết, thống nhất Phật Giáo.
Nổ lực kết hợp Phật Giáo là điều mà tất cả
tăng, ni, Phật tử có ý thức đều thấy là quan trọng, cần thiết.
Khởi đi từ các tăng sĩ Khánh Hòa, Thiện Chiếu cuối thập niên
20, các nổ lực kết hợp Phật Giáo Việt Nam đều thất bại. Cho
mãi đến ngày 6 tháng 5 năm 1951, một sự kết hợp tương đối mới
được hình thành qua việc thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam
tại chùa Từ đàm,
Huế, quy tụ ba tập đoàn cư sĩ và ba tập đoàn tăng già của Phật
Giáo ba miền Nam, Trung, Bắc.
đại Hội đã suy
cử thiền sư Tịnh Khiết làm Hội Chủ (Ngài cũng là vị Tăng Thống
đầu tiên của PHPGVNTN) và thiền sư Trí Hải làm Phó Hội Chủ.
Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam công bố một bản tuyên ngôn lịch sử
rất hào hùng, cảm động:
"Bánh xe Phật Pháp
xoay vần tren khắp quốc độ Việt Nam đến nay đã gần 20 thế kỷ.
Nhân tâm, phong tục, văn hóa, chính trị trong nước đều đã chịu
ảnh hưởng rất sâu xa của Phật Giáo. Tăng đồ và thiện tín từ
Bắc vào Nam, một lòng quy ngưỡng
đức
điều Ngự Thích
Ca Mâu Ni, sống trong tinh thần từ, bi, hỷ, xã và luôn luôn lo
toan xây dựng hòa bình... Hỡi toàn thể Phật tử Việt Nam, chúng
ta hãy san bằng những hình thức sai biệt, cùng chung sức chung
lòng để làm tròn sứ mệnh kiến tạo hòa bình, gây mầm an lạc và
nêu cao ngọn đuốc trí tuệ của
đức
thế Tôn".
Tuy nhiên đây chỉ là sự kết hợp hình thức
vì các tập đoàn Phật giáo vẫn giữ nguyên cơ cấu tổ chức và sự
sinh hoạt độc lập của mình. Mãi cho đến cuối năm 1963 và đầu
năm 1964, một sự thống nhất khá đầy đủ mới được thành tựu qua
việc hình thành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
Gần 30 năm trước đó, Huỳnh Phú Sổ đã kêu
gọi kết hợp và thống nhất PGVN qua việc thành lập Việt Nam
Phật Giáo Liên Hiệp Hội vào đầu năm 1945, ngay sau khi ách
thống trị của Thực Dân Pháp bị lật đổ bởi cuộc đảo chánh của
quân đội Nhật. Trong thòi Thực Dân, Phật giáo bị kỳ thị, đàn
áp và không được tự do tổ chức, sinh hoạt như một giáo hội
bình đẳng với Thiên Chúa Giáo. Hội Nam Kỳ Nghiên
cứu Phật Học
chỉ thuần túy là một hội Phật học và phải do ông Trần Nguyên
Chấn, một người làm việc ở Phủ Thống Soái Nam Kỳ, đứng ra xin
phép mới được hoạt động, còn Phật giáo Hòa Hảo không được
quyền sinh hoạt hợp pháp và Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ bị quản
thúc, lưu đày. Nên sau khi chính quyền Thực Dân bị sụp đổ, với
tư cách "một tín đồ trung thành của đức Phật Thích Ca Mâu Ni"
và với tư thế Giáo Chủ PGHH, vào tháng tư năm ất Dậu 1945,
Huỳnh Phú Sổ thành lập Việt Nam Phật Giáo Liên Hiệp Hội để
đoàn ngũ hóa Tăng, Ni, Phật tử toàn quốc. ông đã viết tôn chỉ
của VNPGLHH như sau:
"Liên hiệp các tôn
phái đạo Phật, các nhà sư, các tín đồ, các nhà trí thức có xu
hướng về Phật giáo để:
- Tìm cách nâng
cao tinh thần đạo Phật.
- Tìm những phương
tiện cứu gíp kẻ nguy nàn vì thời cuộc gây ra.
- Giúp đỡ lẫn nhau
trong việc hôn, quan, tang, tế.
- Binh vực lẫn
nhau trong sự tự do tín ngưỡng".
ông
cũng nêu rõ điều kiện gia nhập Hội như sau:
"Bất luận nhà sư
hay cư sĩ, trí thức, bần dân hễ được vó xu hướng rõ rệt về
Phật giáo, thành tâm chuẩn nhận cái tôn tôn chỉ trên đây, đều
được gia nhập vào Hội, ở tôn phái nào cũng đặng, mặc dầu gia
nhập Hội nhưng vẫn giữ được sụ tu hành và cúng kiếng của Thầy
mình hay Tôn Phái mình. Các tôn giáo khác muốn liên hiệp, phải
có sự bàn bạc riêng".
Qua tên gọi lẫn tôn chỉ và điều kiện gia
nhập, ta thấy rõ Huỳnh Phú Sổ tự coi mình là một tín đồ Phật
giáo, coi Phật giáo Hòa Hảo do ông sáng lập và làm Giáo Chủ là
một tôn phái của Phật giáo Việt Nam và ông bày tỏ nguyện vọng
cũng như nổ lực vận động sư đoàn kết, hợp nhất Phật Giáo trên
toàn quốc.
Không những quan tâm việc thống nhất PGVN,
ông còn quan tâm đến một vấn đề còn quan trọng hơn vấn đề
thống nhất, đó là vấn đề đoàn ngũ hóa Phật Giáo đồ. Thật vậy,
đây là một trong những vấn đề quan trọng nhất, và cũng nan
giải nhất của PGVN. Dù các Hội hay các giáo hội Phật Giáo có
hợp nhất làm một mà tín đồ không được đoàn ngũ hóa thành một
khối có tổ chức, có lãnh đạo, có kỷ luật thì PGVN không thể
thích nghi với thời đại và khó phát triển trước sự bành trướng
với những phương tiện dồi dào của các tôn giáo Tây Phương. Bởi
vậy, trong phần ba của bản điều lệ,
ông nhấn mạnh
đến Hội Viên của Hội,
ông viết:
"hội viên phân làm
hai hạng: hoạt động hội viên và tương trợ hội viên.
a/ Hoạt động hội
viên: gồm các nhà sư hay cư sĩ, trí thức có lòng hy sinh đời
mình, tài sản mình, mong mở mang nền đạo nghĩa và giúp nhân
loại trong sự lầm than.
b/ Tương trợ hội
viên: gồm tất cả đại chúng có lòng thiện từ, vì gia đình, vì
sự nghiệp làm ăn, không thể hy sinh nhất thiết, nhưng có lòng
tán dương ủng hộ công việc của Hội bằng tinh thần hay vật
chất".
Về hệ thống tổ chức, ông hy vọng hình thành
một tổ chức Phật Giáo toàn quốc, theo công thức tổ chức chặt
chẻ, quy cũ của PGHH, nghĩa là hình thành một nền Phật giáo
được đoàn ngũ hóa và thống nhất hóa theo mô hình kim tự tháp,
như các giáo hội Tây Phương, từ Nam ra Bắc. ông viết:
"Về toàn quốc có
Ban Trị Sự Việt Nam Phật Giáo Liên Hiệp Hội cấp hành toàn
quốc, về toàn xứ có Ban Trị Sự VNPGLHH chấp hành toàn xứ, về
toàn tỉnh có Ban Trị Sự VNGPLHH chấp hành toàn tỉnh... " sau
đó là ban trị sự cấp quận và cấp thôn". Các Ban Trị Sự ngoài
việc hằng ngày ra, mỗi tháng phải hội họp... vào ngày 15 và 30
âm lịch trong mỗi tháng. Khi các BTS cử xong, phải khẩn cấp
lập thêm ban ban:
- Ban nghiên cứu
đạo Phật
- Ban huấn luyện
và truyền bá đạo Phật
- Ban Chẩn Tế, lo
tìm phương giúp đỡ kẻ khốn cùng.
1/ Ban nghiên cứu
đạo Phật: Gồm các nhà sư, những nhà thông thái, để hàng ngày
tra cứu kinh điển, dịch sách, hay viết sách nói về đạo Phật.
2/ Ban huấn luyện
và truyền bá: Gồm các nhà sư, cư sĩ, trí thức hoạt động, đặng
Hội phái đi các nơi giảng dạy đạo Phật.
3/ Ban Chẩn Tế:
Gồm các nhà hảo tâm từ thiện nam nữ hoạt động, chuyên lo cứu
giúp kẻ nghèo nàn, đói khổ, tật bịnh, hoặc giả thành lập các
nhà dưỡng lão nuôi trẻ mồ côi, người tàn tật, nếu có thể được,
nên mua trữ thuốc men, vải bô, lúa gạo để dành cho cuộc phước
thiện".
Cho đến thập niên 40, 50, tín đồ PGVN không
được đoàn ngũ hóa và không có một hệ thống tổ chức thống nhất.
Việc thiếu đoàn ngũ hóa là khiếm khuyết quan trọng nhất. Dù có
thống nhất ở thượng tầng mà hạ tầng cơ sở rời rạc, tín đồ
không được đoàn ngũ hóa trong một tập thể có kỹ cương thì việc
thống nhất cũng không xiển dương hết được tiềm lực lớn lao của
Phật Giáo. Ngược lại, dù không có một giáo hội thống nhất, có
giáo quyền và uy tín lãnh đạo được mọi người tuân phục, nhưng
nếu Phật Giáo đồ được đoàn ngũ hóa, có thể qua hàng ngàn hội
Phật giáo ở địa phương, thì Phật giáo vẫn mạnh và có ảnh hưởng
sâu rộng trong mọi lãnh vực sinh hoạt.
Các hội Phật giáo của Nhật, Tàu được đoàn
ngũ hóa chặt chẽ, có những hội có hàng triệu hội viên, ngay cả
các hội Phật giáo của họ tại Hoa Kỳ cũng có hàng ngàn hội
viên, nên có đủ nhân lực và phương tiện để làm việc hữu hiệu
trong các lãnh vực tu học, đào tạo tăng tài, hoằng pháp, giáo
dục, văn hóa, xã hội, kinh tế, cũng như ảnh hưởng vào chính
trị. Trong khi đó, từ cả hai ngàn năm nay, PGVN thiếu một
truyền thống tổ chức, một kỷ luật sinh hoạt, một kỷ cương và
một sức mạnh của một tập thể được đoàn ngũ hóa, có lãnh đạo,
có tổ chức, có kỷ luật và có sinh hoạt đều đặn.
Cụ thể, trong thời gian này, là các Phật tử
phải tham gia vào một hội Phật giáo tại địa phương, đóng
nguyệt liễm đều đặn và đến sinh hoạt đều đặn, ít nhất phải một
tháng một lần. Tình trạng Phật tử một năm đến chùa 1, 2 lần
hay có không đến lần nào, cũng không tham dự một đoàn thể Phật
giáo hay một Phật sự nào, cũng không đóng góp định kỳ cho các
chùa, các hội Phật giáo hay các Phật sự cần thiết là nguyên
nhân chính của tình trạng suy yếu của Phật giáo và suy yếu
ngay từ hạ tầng cơ sở, từ mỗi địa phương.
Việc thống nhất trên thượng tầng, dù hoàn
hảo đến mấy, mà hạ tầng không được xây dựng vững mạnh, tín đồ
không được đoàn ngũ hóa chặt chẻ, thì sự thống nhất ở trung
ương cũng sẽ không có sức mạnh bao nhiêu. Và dù trung ương
không có cơ cấu thống nhất mà mỗi địa phương, mỗi vùng, mỗi
tỉnh, mỗi quận, mỗi làng, mỗi khu phố đều có các tổ chức Phật
giáo, Phật tử tham gia mạnh mẽ các Phật sự tại địa phương thì
toàn quốc cũng sẽ có một phong trào Phật giáo hưnh thịnh. Như
thế ta thấy, Phật giáo thịnh hay suy chính yếu là tùy và do
bởi mỗi tăng, ni, mỗi tín đồ chớ không phải tại hòan cảnh bên
ngoài. Dù bị pháp nạn mà toàn thể tín đồ vẫn trung kiên, hết
lòng vì đạo Pháp thì