Chương sáu: Cuộc
cách mạng tôn giáo của Huỳnh Phú Sổ.
1/ Kêu gọi,
khuyến khích mọi người tu hành theo đạo Phật.
Trong lịch sử văn học Phật giáo Việt Nam, hiếm có ai thống
thiết và mạnh mẽ thúc dục mọi người tu hành theo Phật giáo như
Huỳnh Phú Sổ và ít có ai hướng những lời khuyến tu này đến
quảng đại quần chúng nhân gian như ông. Những tác phẩm của
Trần Thái Tông, quân vương bồ tát, anh hùng dân tộc và thiền
sư lỗi lạc, cũng đã có những lời khuyến tu tha thiết, quyết
liệt, đặc biệt là những bài như Phổ Khuyến Phát Tâm Bồ đề, Phổ
Khuyến Sắc Thân, Kệ Tứ Sơn... nhưng vẫn còn có tính cách văn
chương hoa mỹ chưa đi sâu rộng vào lòng nhân gian. Huỳnh Phú
Sổ xử dụng những ngôn ngữ thật bình dân, mạnh, thẳng đi trực
tiếp vào lòng mọi người, nhất là ông biết dùng những hình ảnh
mọi người bình dân đều hiểu và đều quan tâm:
"điên này
nói việc gần xa, đặng cho lê thứ biết mà lo tu.
Tu cho qua cửa Diêm Phù. Khỏi sa địa ngục,
ngao du Thiên đài".
Tu thiệt là sướng, ai nghe mà không ham? Vừa khỏi cái đại nạn,
đại họa "phải sa địa ngục" còn mà được cái đại phúc, đại phước
"ngao du thiên đài". đức
Phật chắc phải tán dương cư sĩ Huỳnh Phú Sổ đã biết khéo dùng
phương tiện thiện xảo để độ người, chẳng khác gì cư sĩ Duy Ma
Cật trong kinh Duy Ma.
ông
còn tiên tri: "Mèo kêu bá tánh lao xao. đến chừng rồng rắn
máu đào chỉn ghê. Con ngựa
lại đá con dê. Khắp trong thiên hạ
nhiều bề gian lao. Khỉ kia cũng bị xáo xào. Canh khuya gà gáy
máu đào mới ngưng... Từ đây sắp đến thảm thê.
Con lìa cha mẹ vợ kia lìa chồng. Tới
chừng đến việc ngóng trông. Trách rằng trời Phật không lòng từ
bi. Di đà lục tự rán ghi. Niệm cho tà quỷ vậy thì dang ra".
Ai nghe vậy chẳng giật mình thức tỉnh.
Nhưng ông đã không dọa địa ngục thiên đàng ba láp, bậy bạ, đầy
sự mê tín dị đoan, độc đoán, phi lý, và bất công như trong
thánh kinh Thiên Chúa giáo đâu (ai không tin theo Thần Gia Tô,
và Chúa Jesus, dù có làm lành, làm thiện, cũng bị đọa địa ngục
đời đời). Trên đây là những lời tiên tri chính xác.
ông là người,
có lẽ duy nhất trên thế giới, đã tiên tri đệ nhị thế chiến
bùng nổ năm 1939 (năm mèo), tiếp diễn khốc liệt, khủng khiếp
trong năm 40, 41, 42, 43, 44 tức năm con rồng, rắn, ngựa, dê,
khỉ và chấm dứt năm 1945 (tức năm con gà ất Dậu: "Canh khuya
gà gáy máu đào mới ngưng"), cũng như đã tiên tri cảnh chiến
tranh tang tóc của nước Việt Nam sau năm 1945. Những hình ảnh
thân thích ruột thịt, vợ chồng, cha mẹ, con cái bị lâm nạn,
chia lìa được ông đưa ra làm cho ai nấy phải suy nghĩ, thức
tỉnh.
Rồi ông đưa ra phương thức cứu chữa thật
giản dị ai cũng nhớ được, làm được: "Di đà lục tự rán ghi",
tức niệm Nam Mô A Di đà Phật và nhờ vậy mà "tà quỷ dang ra'.
Trước bao tai họa mà chỉ cần niệm Phật thì mình và cả gia đình
mình được bình an, tai qua nạn khỏi, thì ai mà không làm? Thật
là một cách khuyến tu tuyệt diệu, bởi vì đối với nông dân và
quần chúng dân dã, bước đầu và đối với những người căn cơ còn
kém thiện duyên còn ít, phước trí lại mỏng, khuyên họ thức
tỉnh, niệm Phật, bỏ ác, làm lành cũng là một phương pháp tu có
giá trị.
Từ đó ông lại khuyên tiếp để tu ở mức độ
cao hơn: "Khuyên đừng xài phí xa hoa, ăn cần ở kiệm đặng mà lo
tu. đừng khinh những kẻ đui mù. đến sau sẽ khổ gấp mười mù
đui". Nói một lời mà mọi phải xét lại mình và lo tu hành.
Thật là một cách hoằng pháp tài tình. đui mù không dám khinh
thì trên đời này dám khinh ai, bởi vì ai cũng có Phật tánh và
cũng đều có thể thành Phật. Và cảnh nào khổ cho bằng đui mù,
hãy lo tu chớ không thì có thể bị "khổ gấp mười mù đui" đây
không phải là nói quá đáng để hù dọa dân lành mà là sự thật,
bởi vì nếu không tu, không bỏ ác làm thiện thì con người có
thể bị đọa làm súc vật và những cảnh khổ nhục khác. Những lời
khuyến tu thức tế này giá trị trấp trăm lần những lời kêu gọi
trừu tượng, siêu hình.
"Cứ lo làm
việc tà tây, Bắt ngưu, bắt cầy đặng chúng làm ăn. Chừng đau
niệm Phật lăng xăng, Phật đâu chứng kịp lòng người ác gian.
Thầy đời mê muội lần than, ăn bạ nói càn, tội lỗi chỉn ghê.
Chữ tu không phải lời thề. Mà không nhớ đến đặng kề Tiêng bang".
Thật là tuyệt diệu. Khuyên niệm Phật
nhưng liền sau đó cảnh tỉnh rằng niệm Phật mà vẫn tạo ác
nghiệp, như sát canh, giết trâu, giết chó để ăn nhậu "bắt
ngưu bắt cầy đặng chúng làm ăn", hay nói lời độc ác
thì đừng có mong Phật trời cứu độ. Sau khi khuyên mọi người
giữ thân nghiệp, khẩu nghiệp được thanh tịnh bằng cách không
sát sanh hại vật, nói lời hung ác hại người, ông khuyên mọi
người hãy rán giữ ý nghiệp thanh tịnh và đưa Phật vào trong
tâm mình, chuyển hóa tâm mình thành tâm Phật, ông đã đưa mọi
người đến thẳng một trình độ thật cao: "Từ
đây hay ốm hay đau, Rán tu đem được Phật vào trong tâm".
Ai chê tư tưởng Phật học của Huỳnh Phú Sổ
là nông cạn, tầm thường thì từ nay cho đến khi chết hãy làm
một việc này thôi "Rán tu đem được Phật vào trong tâm". "đem
Phật vào tâm" hay tâm mình là tâm Phật, đó là giác ngộ, là
chứng đắc rồi đó.
"đừng
ham tranh đấu thiệt hơn. Tu Niệm chẳng sờn uổng lắm dân ôi.
Hồng trần biển khổ thấy rồi. Rán tu nhơn đạo cho tròn mới
hay... Tu hành tâm trí rán trì... Phải dẹp dị kỷ mà lo tu
hành... Hồng trần lao khổ xiết bao. Khuyên trong lê thứ bước
vào đường tu... Lời lành khuyên hãy gắn ghi, Dương trần phải
rán tu trì sớm khuya... Tu hành không thể thả trôi, Nay lỡ mai
bồi chẳng có thiền tâm... Kệ kinh tụng niệm đêm thanh.
ấy là châu ngọc
để dành ngày mai... Nam mô miệng niệm lòng lành, Bá gia phải
ráng biết rành đường tu... Khuyên trong lê thứ trẻ già, Tu
hành hiền đức Phật mà cứu cho...
đời xưa quả báo
thì chầy, đời nay quả báo một giây nhản tiền. Dương trần phải
ráng làm hiền. đừng
trọng bạc tiền, bỏ nghĩa bỏ nhân... Chuyện người chớ móc chớ
moi, Hãy treo gương thiện mà soi lấy mình... ".
Trên đây chỉ là một phần nhỏ, những đoạn
khuyến tu, trích từ Sấm Giảng Khuyên Người
đời Tu Niệm,
được Huỳnh Phú Sổ sáng tác năm 1939, khi ông chỉ mới 19 tuổi.
ở cái tuổi thiếu niên này, cái tuổi mà
đức Phật Thích Ca và Chúa Jesus còn ham vui, ham chơi một cách
hồn nhiên, vô tư, nếu ông biết rành những kiến thức ngoài đời,
người ta chỉ gọi ông là thần đồng, hay thiên tài, hay học giả
và đây là sự thường vì trên thế giới có rất nhiều trẻ em thần
đồng. Nhưng ở cái tuổi 19 này mà ông làm được những bài thơ
khuyến tu mạnh mẽ, tha thiết đánh động và thức tỉnh cả ngàn,
cả vạn người thì ông đâu có phải là phàm phu. ông có thể là bồ
tát hóa thân hay ít nhất ông đã tu hành tinh tấn vô số kiếp
trong quá khứ. đức đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng, còn được gọi là
"Phật sống", được huấn luyện đặc biệt từ lúc 3, 4 tuổi bởi
những vị cao tăng Tây Tạng lỗi lạc, siêu việt nhất mà còn
không viết nổi những tác phẩm khuyến tu xuất sắc như vậy trong
cái tuổi 18, 19, 20 thì Huỳnh Phú Sổ của Việt Nam xứng đáng để
đứng ngang tầm với các vị bồ tát hóa thân trên thế giới.
2/ Bài trừ
mê tín dị đoan.
Mê tín dị đoan là những điều huyền hoặc,
không có thật, trái chống với lý trí và khoa học. Không có một
tôn giáo nào có nhiều mê tín dị đoan bằng Thiên Chúa giáo với
những tín điều mê tín dị đoan như "Tội Tổ Tông" hay "Tội
Nguyên Thủy", đây là thứ tội tưởng tượng để hù dọa và cùm gông
linh hồn của những kẻ nhát gan, yếu đuối, do ông thầy tu
Augustin (354-430) bịa đặt, sáng chế ra, từ đó mới có những
chuyện như rửa tội, xưng tội. Quan niệm này trái chống với
quan niệm mọi người sinh ra vốn có tánh thiện, có tự do, lựa
chọn và có trách nhiệm với cuộc đời của mình hầu hết các hiền
triết đông
Phương cũng như Tây Phương.
ông cố đạo
Augustin thì lại quả quyết, một cách ngược đời, tiêu cực và
đầy sự mê tín dị đoan là con người chỉ có thể làm việc ác, và
chỉ khi nào được hưởng hồng ân Thiên Chúa thì con người mới
biết làm việc thiện, để mong được cứu rỗi, (Hoài Vân:
đạo Nào Xuất
Thế Tiêu Cực, đạo
Nào Nhập Thế Tích Cực? Phật Giáo Việt Nam, số 92).
Hay tín điều "đức
Mẹ đồng Trinh", dù bà Maria, không những sinh ra Chúa Ki
Tô mà còn sinh ra những người con khác, ai cũng biết muốn có
con thì phải có sự giao hợp nam nữ và dĩ nhiên người đàn bà
không còn trinh tiết nữa, giả thử như Chúa Ki Tô là người trời
giáng phàm thì giải thích làm sao về sự sinh đẻ những người
con sau của "đức
mẹ Vô Nhiễm"? Tin Lành, tuy cùng công nhận Chúa Ki Tô
nhưng không chấp nhận tín điều mê tín dị đoan này. Hay "Ngày
phán xét cuối cùng" cũng là một sự mê tín dị đoan vì thánh
kinh và giáo hội Vatican không biết và không nói được khi nào
xẩy ra. Các linh hồn sau khi chết, hàng tỷ tỷ linh hồn như vậy
đã chết từ hàng ngàn, ngàn năm nay, hiện đang ở đâu và phải
chờ bao lâu nữa mới được phán xét? Thật tội nghiệp cho những
linh hồn thánh thiện, họ cũng đã và đang vất vưỡng, lang thang
đâu đó suốt hàng chục thế kỷ nay. Hay thuyết "Chúa Trời
sáng tạo vũ trụ" với những luận đề vô cùng ấu trĩ, sau lầm
nghiêm trọng, phản khoa học và nhận thức thông thường như mặt
trời quay quanh trái đất, trái đất có một "vòm trời"
bao bọc, ông Adam và bà Eva là thủy tổ của loài người, thế
giới được sáng tạo cách đây... 6.000 năm (khoa học hiện đại
chứng minh là riêng trái đất của chúng ta đã xuất hiện cách
đây 4.600 triệu năm)... tất cả và toàn bộ học thuyết, quan
điểm, tín điều của Thiên Chúa Giáo đều là những điều mê tín dị
đoan như thế.
đạo
Phật thì ngược lại, không những phù hợp khoa học và còn đi
trước khoa học rất xa. Nhà bác học vĩ đại nhất của thế kỷ 20,
là Einstein đã hoàn toàn có lý khi tuyên bố: "Buddhism begins
where Science ends" (Phật giáo bắt đầu ở nơi khoa học kết
thúc), có nghĩa là sau khoa học, siêu việt nhưng tiếp nối hoa
học, đưa nhân loại đi xa hơn những điểm khoa học còn mịt mù,
bó tay, chưa đủ sức hiểu biết, lý giải nổi, chính là Phật
giáo.
Khoa vật lý học hiện đại, khoa thiên văn
học hiện đại đã chứng minh lời khẳng định kỳ diệu xuất thần
này của khoa học gia Einstein. Fritjof Capra trong cuốn The
Tao Of Physics (đạo Vật Lý) đã chứng minh, và làm sáng tỏ một
cách rực rỡ, bằng khoa học vật lý hiện đại, những luận đề, có
vẻ nghịch lý, mâu thuẩn, của Phật giáo như câu kệ nổi tiếng
trong Bát Nhã Tâm Kinh "Sắc tức thị không, không tức thị
sắc" (Emptiness is form,
and form is indeed emptiness.
Emptiness is not
different from form, form is not different from emptiness.
What is form that is emptiness what is emptiness that is form,
p 215) hay quan điểm tương tức
(inter-being) tôi là vũ trụ, vũ trụ là tôi, và tương nhập
(inter-penetration) trong tôi có tất cả, trong tất cả có tôi,
được trình bày huy hoàng trong bộ kinh tuyệt đỉnh Hoa Nghiêm,
cũng được Capra lý giải một cách tuyệt hảo theo khoa học vật
lý hiện đại (the universe is a
perfect network of mutual relations, where all things, and
events interact with each other in such a way that each of
them contains, in itself, all the others... all phenomena in
the universe are harmoniuosly interrelated, ... the mutual
interdependence of all things and events... The Buddist
concept of interpenetration goes far beyond any scientific
bootstrap theory. Nevertheless, there are models of subatomic
particles in modern physics, based on the bootstrap
hypothesis, which show the most striking parallel to the views
of Mahayana Buddhism. pp 285-301).
Nhà khoa học lớn nhất thế kỷ Albert
Einstein đã nhận định như sau về đạo Phật:
"Nếu có một tôn
giáo nào có thể thích nghi với những nhu cầu khoa học hiện
đại, thì đó chính là Phật giáo. Phật giáo không cần duyệt xét
những quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá
mới của khoa học, bởi vì Phật giáo bao gồm khoa học, và đồng
thời cũng vượt qua khoa học. Phật giáo lá chiếc cầu nối liền
tôn giáo và những tư tưởng khoa học. Chiếc cầu Phật giáo đã
kích thích con người khám phá những tiềm năng lớn lao nằm sâu
kín trong chính nó và trong môi trường sống xung quanh nó.
Phật giáo siêu việt qua thời gian và mãi mãi có giá trị".
Tuy mang bản chất khoa học, đề cao đến tột
đỉnh lý trí, nhưng Phật giáo, trong tiến trình phát triển suốt
25 thế kỷ vừa qua trên khắp mọi miền trên thế giới, đã không
tránh khỏi tình trạng bị suy thoái và bị những tín ngưỡng đa
thần truyền thống của các nước bản địa xâm nhập, và đôi khi,
tràn ngập, đặc biệt là ở Trung Hoa và Việt Nam.
Tại miền Tây, vùng đất mới, chan hòa các
tín ngưỡng phức tạp nhất từ Hồi Giáo, Bà La Môn giáo, Phật
giáo nguyên thủy đến Phật giáo đại chúng và các nguồn tín
ngưỡng bình dân cổ truyền mà những "thổ dân" người Chàm, người
Miên đã lưu giữ từ bao đời cũng như những tín ngưỡng truyền
thống mà những "di dân" người Việt, người Hoa đã mang đến. Tác
giả Thành Nam đã trình bày tình trạng tín ngưỡng phức tạp tại
đồng bằng sông Cửu Long như sau:
"Trong bối cảnh xã
hội Việt Nam tại nông thân, nền tín ngưỡng dân gian "đa thần
đa giáo" thể hiện qua các hình thức hổn tạp, đến nổi các nhà
nghiên cứu Tây Phương phải nói rằng "không thể xác định người
Việt Nam theo tôn giáo nào". Tuy rằng nhận xét này không hẳn
đúng nhưng trên thực tế, dân chúng thờ các loại thần linh:
thần tài, thần lộc, Hà Bá Thủy thần, thần cục đất, thần cây
đa, thổ thần, tà thần, ôn hoàng dịch lệ, ma vương, quỷ sứ...
Cho nên trong xã hội phát sinh những "ông thầy" hay "ông đạo"
mà không có nền tảng đạo lý nào: thầy bùa, thầy ngãi, thầy phù
thủy, thầy cúng, ông đồng bà cốt, thầy bói, thầy chiêm tinh,
thầy địa lý... Tất cả những tín ngưỡng dân gian hổn tạp này
song hành với các tôn giáo có nền tảng triết lý cao siêu khả
kính của đông Phương như Phật, Nho, Lão, đạo thờ tổ tiên, anh
hùng liệt sĩ... Không những đi song hành, mà ở thôn quê các
sinh hoạt mê tín dị đoan này còn lấn áp các tôn giáo khả kính,
có khi chính các tôn giáo này suy yếu, bị tà giáo lấn áp và
đồng hóa" (t 237).
Trong tình trạng tín ngưỡng sa đọa, hổ lốn,
mù mịt tối tăm như vậy, làm cách nào để đưa phật pháp đến tay
những dân quê mùa, ít học này và nhất là những nông dân hiền
lành, yếu đuối, lúc nào cũng bảo thủ, sợ sệt đủ mọi thứ thần
linh, tôn thờ mọi phép tắc xưa cũ và rất sợ thay đổi? Thay đổi
truyền thống, thói quen của lớp thị dân đã rất khó, thay đổi
tập tục tín ngưỡng lâu đời của nông dân còn khó hơn. Thế nhưng
Huỳnh Phú Sổ đã thành công vượt quá sự tưởng tượng. ông đã
thật sự thay đổi tâm thức, nếp sống của hàng triệu nông dân.
điều mầu nhiệm
là trong xã hội nông thôn chỉ trọng người lớn tuổi, coi khinh
bọn thanh niên nhỏ tuổi, thanh niên 19 tuổi Huỳnh Phú Sổ đã
thuyết phục được hàng triệu nông dân xô ngã mọi tà thần và tu
học, thực hành Cháp pháp với tất cả lòng thành và tín tâm.
Chính ông đã đích thân xô ngã một ngôi miễu thờ tà thần xuống
sông.
ông
đã đưa ra tám
điều
răn, trong
đó có đến hai điều để bài trừ mê tín dị đoan:
"Ta chẳng nên ăn thịt trâu, chó,
bò và sát sanh hại vật mà cúng thần thánh nào, vì thần thánh
không bao giờ dùng hối lộ mà tha tội cho ta, và nếu ta làm tội
sẽ chịu tội, còn những hạng ăn đồ cúng kiếng mà làm cho hết
bịnh là tà thần, nếu ta cúng kiếng mãi thì nó ăn quen sẽ nhiễu
hại tạ (điều 5) – Ta không nên đốt giấy tiền vàng bạc, giấy
quần áo mà tốn tiền vô lý, vì cõi Diêm Vương không bao giờ ăn
hối lộ của ta, mà cũng không xài được nữa, phải để tiền lãng
phí ấy mà trợ cứu cho những người lỡ đường, đói rách, tàn tật"
(điều 6).
Hiện nay, năm 1995, ngay tại Hoa Kỳ các chợ
VN vẫn còn bán đủ thứ đồ bằng giấy để đốt cúng cho người đã
chết, vậy mà ngay từ những năm 40, Huỳnh Phú Sổ đã kịch liệt
bài bác, cấm chỉ những việc làm mê tín dị đoan như thế thì ông
không những là sáng suốt mà còn can đảm. Dân chúng đã nghe
ông, vì ông đã chữa lành bịnh cho họ, mà không cần những sự
cúng kiếng, bùa ngãi, phù phép tà đạo từ 4, 5 chục năm nay,
tại vùng PGHH khắp nhiều tỉnh ở miền Tây, tình trạng mê tín dị
đoan này đã bị quét sạch, trong khi đó tại khắp các vùng khác,
dù chính quyền bài trừ, ngăn chận, cũng không chận đứng được
nạn mê tín dị đoan. điều
đáng buồn là cho đến ngày nay, ngay chính trong hàng ngũ tăng,
ni, nhiều người không bài bác, ngăn cản mà lại còn nhắm mắt
làm ngơ hay khuyến khích các tệ đoan tà đạo này.
3/ Loại
bỏ các nghi lễ lai căng, phù phiếm, rườm rà, vụ hình thức.
Việt hóa và giản dị hóa nghi thức thờ phượng.
Mặc dù các hội Phật học trong các thập niên
30, 40 và các giáo hội Phật giáo từ thập niên 50 đến ngày nay
không ngừng nổ lực Việt hóa và giản dị hóa các nghi lễ nhưng
PGVN trong cuối thế kỷ 20 vẫn còn những lễ nghi, hình thức lai
căng, lạc hậu, rườm rà, phù phiếm, vô nghĩa. Ngay cả nghi lễ
tụng niệm hàng ngày của chư tăng ni trong các giờ công phu
sáng sớm và ban đêm, coi như là công việc chính của đa số tăng
ni, thì như thầy Thanh Từ cho biết đó là những nghi lễ của
Trung Hoa được sáng chế trong thời nhà Thanh, là thời phật
giáo suy đồi, bị Lạt Ma giáo xâm nhập, hủ hóa làm cho biết
chất trí tuệ cố hữu của đạo Phật. Như các kinh tụng vẫn tụng
những bài kinh dài bằng tiếng Phạn, diễn âm qua tiếng Tàu,
nhiều người không hiểu gì cả nhưng vẫn tụng đọc say sưa.
Ngay tại Tây Tạng, là đất của Mật Tông với
nhiều thần chú, nhưng đa số cũng chỉ tụng câu Om Mani Padme
Hum thôi, chỉ có sáu chữ, và có nghĩa là sự hợp nhất, không
thể phân ly giữa Mani, Viên Ngọc Như ý, tượng trưng cho
đại Từ Bi và
Padme, Bông Sen, tượng trưng cho
đại Trí Tuệ
(Phạm Công Thiện: Phật Giáo Mật Tông Tây Tạng, Bông Sen số
20), trong khi đó PGVN lại tụng chú
đại Bi bằng "song
ngữ" Phạn-Hán: "Nam Mô hắc
ra đát na đá ra dạ da..." cả hàng ngàn chữn vô
nghĩa, hay chú Lăng Nghiêm:
"Nam Mô tát đát tha tô già đa da ra ha đế tam miệu tam bồ đà
tỏa, tát đát tha Phật đà cu tri sắc ni sam..."
Tiếng gì vậy? Ngay cả những người có bằng tiếng sĩ ngôn ngữ
học tiếng Phạn chắc cũng không hiểu nổi cái lối diễn âm này
của mấy ông ba Tàu đời nhà Thanh.
Hay Bát Nhã Tâm Kinh, trong Nghi Thức Tụng
Niệm Thống Nhất được xử dụng trong các chùa hiện nay, cũng
không được dịch ra tiếng Việt và kết thúc bằng câu: "Yết đế
yết đế Ba la yết đế. Ba la tăng yết đế Bồ đề tát bà ha" chẳng
ai hiểu gì, trong khi nguyên văn Pali là: Gate gate Paragate
Parasamgate Bodhi Svaha (tạm dịch là Vượt, vượt, vượt qua,
vượt đến bờ bên kia. Giác Ngộ. Ta đã tới nơi rồi). Thần chú,
nếu thật là linh nghiệm, thì chỉ có thể là những câu ngắn.
Phật, Bồ Tát có tha tâm thông, thiên nhỉ thông không những có
thể nghe và hiểu mọi tiếng nói mà còn nghe và hiểu cả tâm
tưởng, tư duy sâu thẳm nhất của mọi loài chúng sanh, hà tất
phải tụng bằng tiếng Phạn, tiếng Tàu mới là linh nghiệm hay
sao?
Các nghi lễ Việt Nam như "Lục Thời Sám Hối"
do vua và đại thiền sư Trần Thái Tông sáng chế và áp dụng
trong thời nhà Trần, kể từ đời Minh thuộc từ đầu thế kỷ 15 trở
về sau, cũng như bộ luật Hồng
đức, đều bị
những kẻ nô lệ, tay sai văn hóa Tàu tiêu hủy, thay vào đó là
các nghi lễ, luật lệ Trung Hoa, và tệ nhất là kể từ đời nhà
Nguyễn, từ bộ luật Gia Long đến các nghi lễ Phật giáo đều bắt
chước lập khuôn theo luật lệ, nghi lễ nhà Thanh.
điều mỉa mai là
Nhà Thanh cũng không phải là Trung Hoa mà chính là người Mãn
Châu đến đô hộ, thống trị người Tàu và đã áp đặt những luật lệ
khắc nghiệt và những lễ nghi lai căng, hổn tạp lên chính nhân
dân Trung Hoa. Vua quan, tăng ni kém cỏi, yếu hèn Việt Nam
thời Nhà Nguyễn ăn cắp hết tất cả những cặn bã và thuốc độc
này để tôn thờ, quỳ lạy, tụng đọc, nhai nuốt mỗi ngày, suốt
hàng trăm năm nay. Các danh tăng VN đều hiểu rõ tệ đoan độc
hại này, nhưng đao số lại làm lơ, hay có lên tiếng, cũng lên
tiếng yếu ớt, cho có lệ.
Nhưng Huỳnh Phú Sổ đã không thể nào chấp
nhận những thứ tà giáo và lai căng. ông đã tuyên chiến với
chúng, thủ tiêu, bày trừ tận gốc và đưa ra những hình thức
nghi lễ mới, hoàn toàn Việt Nam, hoàn toàn dân tộc và rất phù
hợp với Phật Giáo thời
đức Phật còn tại thế.
Theo sự chỉ dạy của ông, tín đồ PGHH chỉ
đặt trong nhà một cái bàn thờ, trên thờ Tam Bảo Phật, Pháp,
Tăng, Anh Hùng Dân Tộc, dưới thờ tổ tiên cha mẹ đã qua đời.
Không có hình, tượng, chuông, mõ, chỉ thờ một tấm trần điều
màu đà, biểu tượng hòa hợp màu sắc, tượng trưng cho màu dân
tộc và theo truyền thống Thiền VN. Trên bàn thờ chỉ có nhang
đèn, nước lã và bông hoa. Lúc thờ cúng họ chỉ lâm râm đọc
những bài kinh, lời nguyện, hoàn toàn bằng tiếng Việt, chớ
không trổi giọng ngâm nga ê a hay khua chuông gõ mõ ồn ào. Mỗi
ngày họ nguyện hai lần sáng, tối. Ngoài trời, họ có một bàn
thờ nhỏ, gọi là bàn thờ thông thiên đặt trước nhà, buổi tối,
cả gia đình đều cúng lạy, đọc kinh, cầu nguyện trong im lặng,
trang nghiêm, hết sức tinh khiết, giản dị.
Huỳnh Phú Sổ còn muốn giản dị hơn nữa: "đi
làm ruộng đến thời cúng, ngó về hướng Tây, nguyện rồi xá bốn
hướng. Còn đi xa nhà thì nguyện tưởng trong tâm cũng được"
(Bài đi Xa Nhà)
hay "ở
ruộng đồng cũng niệm vậy mà. Phật bất chấp không nài thời khắc"
(bài Giác Mê Tâm Kệ). ông còn chỉ dạy rất chí lý và trước các
vị danh tăng Thiện Hoa, Thanh Từ hàng chục năm, ông đã dạy tín
đồ biết rõ tu là sửa, là trau chuốt tâm mình cho trong sạch,
thanh tịnh, cải đổi tính tình mình cho ngay thẳng, hiền lương:
"Sự tu hành cốt ở chỗ trau tâm
trỉa tánh, hơn là do sự lễ bái ở ngoài... kẻ nào ở chung đậu
với người khác không có tu hiền, hoặc nhà cửa nhỏ hẹp quá
không có chỗ thờ phượng thì đến giờ cúng kiến, chỉ vái thầm và
niệm Phật trong tâm cũng được" (bài Thờ Phượng).
Coi trọng cái tâm và không chấp vào mọi hình thức là điều
đức Phật thường
khuyên răn đệ tử. Có một tỳ kheo vì bị tâm dâm dục chi phối,
ông đã dũng mãnh cầm dao cắt đứt bộ phận sinh dục của mình.
Phật nghe chuyện liền quở rằng: "Cái
đáng cắt bỏ (là tâm dâm dục) thì lại không cắt, mà lại đi cắt
cái không đáng cắt bỏ".
Không những giản dị tối nghi lễ, ông còn
khuyên mọi người đơn giản hóa các việc tang lễ, hôn nhân, là
những điều gây tốn kém, lãng phí rất nhiều. Theo đúng lời Phật
dạy, và cũng là tục lệ của các nước văn minh ngày nay, ông
khuyên tín đồ không nên la khóc thảm thiết hay kèn trống ồn ào
hay cúng kiếng linh đình trong đám tang, chỉ lâm râm cầu
nguyện cho người quá cố được siêu thoát. Về hôn nhân, ông dạy
tín đồ phải bỏ nạn ép duyên, lệ thách tiền cheo và lễ vật, bớt
sự ăn uống linh đình. ông cũng bài trừ, chỉ trích lệ đem lễ
vật, đồ cúng: "Tới với ta chớ
đem đồ cúng, chỉ đem theo hai chữ thành lòng".
điểm
đặc biệt nữa là ông chủ trương không cất chùa, đúc tượng,
không thờ hình tượng nào, kể cả hình của chư Phật.
điều này rất
đúng với lời Phật dạy:
đức Phật đã cấm các đệ tử và tín đồ thờ hình ảnh của
Ngài. Lý do rất dễ hiểu: đức Phật là một đạo sư, một "Thiên
Nhân Sư" (thầy của Người và Trời), chớ không phải là thần
linh. Ngài muốn chúng ta tự mình thắp đuốc lên mà đi, tự mình
là hải đảo, là nơi nương tựa của mình, tự mình nổ lực tu tập
theo con đười Trí Tuệ, Giải Thoát của Ngài, chớ không muốn
chúng ta ươn hèn, lười biếng cầu khẩn Ngài như nhân loại thời
đó cũng như các tôn giáo độc thần, hay đa thần xưa nay chỉ
biết tế lễ, cầu nguyện, chớ không biết tu tập và tự mình chứng
đắc, giác ngộ. Sự khác biệt giữa đạo Phật và các tôn giáo khác
là ở chỗ cốt tủy này. Tiếc rằng ngày nay, đa số tăng, ni, phật
tử cũng chỉ nhìn Ngài như một ông thần, hối lộ cho Ngài một ít
nhang đèn, hoa quả, và cầu xin Ngài đủ thứ, chẳng khác gì tín
đồ các tà đạo.
Tu chính là sửa, sửa trước hết là giảm bớt
và lần hồi dứt bỏ lòng tham. Tu theo kiểu cúng kiến, lễ bái,
cầu xin như lối tu của số lớn phật tử ngày nay chỉ tăng thêm
lòng tham và vì vậy chẳng sửa được gì. Các thầy Thiện Hoa,
Thanh Từ, Từ Thông... đã giảng dạy, phê phán lối tu tham lam,
lười biếng này biết bao năm nay... Nhưng trước các vị danh
tăng này, Huỳnh Phú Sổ đã giảng dạy, phê phán mạnh mẽ, quyết
liệt hơn rất nhiều:
"Chúng đục đẽo
những cây với vủi. đắp xi măng sơn phết đặt tên. Ngục A Tỳ dựa
kế một bên. Chờ những kẻ tu hành giả dối. Khuyên sư, vãi mau
mau cải hối. Làm vô vi Chánh
đạo mới mầu.
đạo Thích Ca
nhiều nẽo cao sâu. Hãy tìm kiếm cái không mới có. Ngôi Tam Bảo
hãy thờ Trần đỏ.
Tạo làm chi những cốt với hình. Khùng nói cho già trẻ làm tin.
Theo Lục Tổ chớ theo Thần Tú" (Kệ Dân Của Người Khùng).
Cũng như
đức Phật, như
Lục Tổ Huệ Năng, như Quốc Sư Phù Vân cầm tay yêu thương, trièu
mến nói với vua Trần Thái Tông: "Trong núi vốn không có Phật.
Phật ở trong tâm ta. Nếu tâm lắng lại và trí tuệ thức tỉnh thí
đó chính là Phật, chớ không cần phải đi tìm cầu cực nhọc ở bên
ngoài". Huỳnh Phú Sổ khẳng định chắc nịch chân lý này, cốt tủy
của Thiền Tông và tinh hoa của
đạo Phật: "Vậy
hãy mau tầm đạo Thích Ca. Phật tại Tâm chớ có đâu xa"
(Kệ Dân...). Khi nói những câu khẳng định xuất thần này, ông
vừa đúng 20 tuổi và tôi quả quyết ông đã ngộ đạo.
Cảm thương chúng sanh tu hành mê muội, ông
đã cảnh tỉnh, một cách dữ dội, quyết liệt, như các thiền sư
phải vun gậy đánh học trò ngu mê của mình:
"Học tả đạo làm
điều tà mị. Theo dị đoan cúng kiếng tinh tà... Trong sáu tỉnh
nhiều điều tà mị. Tu hành mà vị kỷ quá chừng... Kẻ nghèo khó
hụt tiền thiếu gạo. Mở lòng nhơn tiếp rước mới là. Làm hiền
lành hơn tụng hơ hà. Hãy tưởng Phật hay hơ ó ré.
đã chánh đạo
thêm còn sức khỏe. đặng
nuôi cha dưỡng mẹ cho tròn... Lũ thầy đám hay làm trò khỉ,
mượn kinh luân tụng mướn ăn tiền. Chốn Diêm đình ghi tội liên
miên, mà tăng chúng nào đâu có rõ. Theo Thần Tú tạo nhiều
chuông mõ, Từ xưa nay có mấy ai thành? Phật từ bi độ tử độ
sanh, Là độ kẻ hiền lương nhơn ái.
Xá với phướng là
trò kỳ quái, Làm trai đàn che miệng thế gian. Kẻ vinh hoa phú
quý giàu sang. Mướn tăng chúng đặng làm chữ hiếu. Thương bá
tánh vì không rõ hiểu, Tưởng vậy là nhơn nghĩa vẹn toàn. Thấy
lạc lầm đây động lòng son, Khuyên bổn đạo hãy nên tỉnh ngộ...
ỷ tước quyền làm ác ê hề. Khi bỏ xác nhiều tiền lo lót, Kinh
với Sám tụng nghe thảnh thót, Lũ nhưn bông tập luyện đã rành.
đẩu với đờn,
kèn, trống nhịp sanh. Làm ăn rặp đặng đòi cao giá. Tâm trần
tục còn phân nhơn ngã, Thì làm sao thoát khỏi luân hồi. Những
giấy tiền vàng bạc cũng thôi, chớ có đốt tốn tiền vô lý. Xưa
Thần Tú bày điều tà mị, Mà dắt dìu bá tánh đời
đường. Thấy
chúng sanh lầm lạc đáng thương. Cõi âm Phủ đâu ăn của hối. đúc
Phật lớn chùa cao bối rối, Mà làm cho Phật giáo suy đồi.
Tu vô vi chớ cúng
chè xôi, Phật chẳng muốn chúng sanh lo lót. Tăng với chúng ưa
ăn đồ ngọt. Nên bày ra cúng kiếng hoài hoài. ỷ nhiều tiền
chẳng biết thương ai. Cúng với lạy khó trừ cho đặng. Kẻ nghèo
khó tu hành ngay thẳng. Không cầu siêu Phật bỏ hay sao? Lập
trai đàn chạy chọt lao xao, Bôi lem mặt làm tuồng hát Phật.
Nay nhằm lúc mùa màng ngập thất. Vậy hãy mau bỏ bớt dị đoan.
Ráng giữ gìn luân lý tam cang. Tròn đức hạnh mới là báu quý...
Có thân chẳng liệu lấy thân. Tu theo lối cũ mau gần Diêm
Vương"... (Kệ Dân).
Lối cũ là lối nào?
đó là lối tu
tạp nhạp, đa thần, dối trá, đạo đức giả mà Huỳnh Phú Sổ vừa
lên án gắt gao nhưng vô cùng chí lý. Các tệ đoan này cũng là
những điều mà tất cả các hội Phật học trong phong trào chấn
hưng Phật giáo thập niên 30, 40 đều kịch liệt lên án, bài trừ,
lối cũ là lối thầy cúng, thầy tụng lẫn lộn trong đạo Phật và
tăng, ni cũng chỉ là những người không hiểu Phật pháp, không
giảng dạy nổi Phật pháp, đi cúng đi tụng, lo chuyện cầu an,
cầu siêu, van xin và thờ lạy trước đủ mọi thứ thần thánh. Thời
đức Phật không
có chuyện cầu an cầu siêu. Huỳnh Phú Sổ cũng không chấp nhận
chuyện cầu an cầu siêu và các tăng như Hòa Thượng Thanh Từ
cũng không chấp nhận những chuyện "Phật giáo độ tử" này thay
vì độ sanh và đưa đạo Phật vào đời sống tu tập, sinh hoạt xã
hội hàng ngày.
Tình trạng đa thần hổn tạp xâm chiếm Phật
giáo trầm trọng đến nổi vào thập niên 50, Giáo Hội Tăng Già
Nam Việt cũng như các giáo hội khác ở Bắc và Trung đã ra giáo
lịnh trong chùa chỉ được thờ Phật Thích Ca, Phật A Di
đà, và các bồ
tát Quan âm,
tượng trưng cho đại Bi, Văn Thù, tượng trưng cho đại trí, Phổ
Hiền, tượng trưng cho đại nguyện và cấm chỉ thờ phụng, lễ bái
những vị thần thánh hổn tạp, tà đạo. Phật là "thiên nhân sư",
thầy của thần, của trời, kể cả những vị trời
đế Thiên,
đế Thích, thế
mà lại thờ Phật lẫn lộn với các thứ thần tạp nhạp giả mạo và
cũng kinh sợ, quỳ lạy, cầu xin trước những hình tượng tà đạo
này như kinh sợ, quỳ lạy, cầu xin Phật thì còn gì là sự cao
quý, hy hữu của đức
Phật, và sự siêu thoát, trang nghiêm của
phật giáo?
Nền Phật giáohình tướng nhưng thiếu nội
dung Phật chất, tức là nội dung trí tuệ, giác ngộ, đã làm cho
đạo Phật lu mờ, suy đồi. Bởi vậy, Huỳnh Phú Sổ không chủ
trương cất thêm chùa, đúc thêm tượng nữa.
ông dạy tín đồ:
"Nên dùng tiền ấy
mà cứu giúp người nghèo khổ, thay vì cất chùa to, đúc tượng
lớn".
ông
cũng khuyên không dùng thực phẩm cúng Phật "vì
chư Phật không cần đến thực phẩm thế gian".
PGHH cũng là tôn giáo hiếm hoi trên thế
giới không chủ trương hình tướng, xây cất nguynga những cơ sở
tôn giáo, thờ phụng. Khắc kỷ khiêm tốn hơn cả Phật giáo nguyên
thủy, họ chỉ thiết lập hệ thống
độc Giảng
đường, kiến
trúc như một cái chòi đơn sơ, trống trãi và rất ít tốn kém,
dùng cho việc đọc kinh, giảng kệ qua hệ thống phóng thanh công
cộng vào những ngày giờ nhất định để truyền bá giáo lý. Các
hình tướng, lễ nghi chỉ là hình thức, Phật pháp mới chính là
nội dung. Hình thức cũng cần thiết, nhưng nên đơn sơ và có
tính cách tượng trưng và ta phải biết đó chỉ là phụ thuộc để
nhắc nhở tâm trí ta luôn luôn hướng về Chánh Pháp. Nếu ta chỉ
chạy theo hình thức mà bỏ quên nội dung thì đạo Phật khác gì
các tôn giáo khác? và các tà đạo?
Không có ai, trong suốt lịch sử 2.000 năm
PGVN, đã cố gắng loại trừ tà thần, tà giáo, mê tín dị đoan ra
khỏi Phật giáo, và làm cho Phật giáo trở lại sự trong sáng,
trang nghiêm, thanh tịnh, an lạc và giải thoát đặc thù của
mình, một cách tha thiết và quyết liệt như Huỳnh Phú Sổ và
ông đã làm
những điều cần thiết, tốt đẹp này, một cách can đảm và có trí
tuệ, khi ông
chỉ 20 tuổi. Huỳnh Phú Sổ là thánh tăng, chớ không thể là một
cư sĩ Phật tử phàm phu. Những điều
ông chủ xướng
một cách hăng say, nhiệt tình không những có giá trị trong
thập niên 40 mà còn có giá trị trong thập niên 90 này và trong
thế kỷ tới.
4/ Làm
nổi bật vai trò của cư sĩ, phật tử tại gia như là thành phần
chính yếu, quan trọng nhất trong Phật giáo.
đây
là cuộc cách mạng chưa từng xẩy ra trong Phật giáo thế giới và
PGVN. Tin Lành đưa ra những cải cách giáo lý và đồng thời thực
hiện một cải cách quan trọng trong chế độ tăng lữ là các tu sĩ
có thể lập gia đình. Huỳnh Phú Sổ tuy có những cải cách quan
trọng trong việc thực hành Phật pháp nhưng
ông không đưa
ra một cải cách nào về nội dung Phật pháp, tuy nhiên ông lại
thực hiện một cải cách đi xa hơn cả cuộc cách mạng của Tin
Lành (so với Giáo Hội Thiên Chúa Giáo La Mã) là
ông xây dựng
một tông phái và một giáo hội chỉ gồm toàn những người Phật tử
tại gia. Tuy ông
vẫn chủ trương tôn kính, thờ phụng Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng)
nhưng tông phái và giáo hội Phật giáo do
ông sáng lập
chỉ gồm có Nhị Bảo, nghĩa là chỉ gồm có
đức Phật và
Phật Pháp mà thôi, không có tăng già.
Tuy
ông có phê bình những tăng sĩ hư đốn nhưng sự phê bình
này so với sự phê bình của Thích Thiện Chiếu hay những tăng,
ni, phật tử khác thì không có gì đáng kể và
ông cũng không
loại bỏ tăng già ra khỏi đoàn thể "tu hiền" theo Phật pháp của
ông. Không
những thế chính ông
là người sáng lập Hội Phật Giáo Liên Hiệp để đoàn kết tăng,
ni, phật tử không phân biệt tông phái, hệ phái. Nhưng trong
thực tế, đoàn thể tu học của ông, tạm gọi là một tăng thân
(tăng thân nghĩa là một đoàn thể tu học), một đoàn thể tu học
có đến cả triệu người tham gia, được đoàn ngũ hóa và có số
lượng, chất lượng và sức mạnh hơn hẳn tất cả đoàn thể tu học
khác trong thời đó (thập niên 40, 50) và nó chỉ không bằng
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành lập đầu năm
1964 mà thôi, còn ngoài ra nó hơn hẳn tất cả giáo hội hay đoàn
thể Phật giáo khác.
ông
không cấm cản, loại trừ sự tham dự của tăng, ni nhưng vì trong
thực tế, không một tăng, ni nào tham gia đoàn thể tu học PGHH,
và tất cả tín đồ PGHH đều là Phật tử tại gia, nên PGHH chỉ có
nhị bảo và thiếu đi tăng bảo. Không một Phật tử nào có thể
tưởng tượng một cái chùa mà không thình được thầy hay sư cô
nào về trụ trì là mọi Phật tử cũng cảm thấy thiếu thốn người
đại diện cho tam bảo, người truyền dạy phật pháp, người hướng
dẫn tinh thần. Thế mà cách đây 50 năm Huỳnh Phú Sổ thành lập
PGHH, một tông phái mới của PGVN, một đoàn thể tu học cả triệu
người mà không cần đến một tăng sĩ nào cả. PGHH đã đứng vững,
duy trì và phát triển được trong nửa thế kỷ vừa qua, dù họ
luôn luôn bị đàn áp, bức hại, thua thiệt nhiều bề.
Không những thế PGHH còn trở thành một cộng
đồng tu tập có chất lược cao hơn hầu như tất cả cộng động Phật
giáo khác. Và sự trội vượt về chất lượng này hay ở cái chỗ là
nó không thể hiện qua kinh sách, hình tướng, mà thể hiện trong
đời sống tâm linh, tinh thần, tôn giáo, tín ngưỡng, gia đình,
xã hội của các tín đồ. Chỉ về miền Tây, đi sâu vào các làng
PGHH thì sẽ thấy sự khác biệt so với các làng khác: ở đó người
dân hiền lương, đạo đức hơn, các tệ đoan tôn giáo và xã hội
như cúng kiếng, tế lễ linh đình, phí phạm, buôn thánh bán
thần, mê tín dị đoan, rượu chè, cờ bạc, ăn nhậu đều rất ít so
với các nơi khác.
đặc
biệt là trong thời kỳ chiến tranh 50-75, các vùng PGHH là
những ốc đảo an ninh, thanh bình trong một đất nước ngập tràn
máu lửa, bắn giết, tang tóc, đau khổ. Rồi sau 75, cả đất nước
từ Nam chí Bắc đều không tránh khỏi thảm họa sụp đổ về luân
lý, đạo đức, nhân tính, sự dối trá, lường gạt, lừa đảo, tệ
đoan xã hội, mê tín dị đoan lan tràn, nhưng ở các tỉnh vùng
đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là trong các vùng PGHH lại
là những nơi đa số dân chúng vẫn giữ được sự thuần hậu, chất
phác lương thiện, hiền lành.
Chức năng chính của tôn giáo là gì? Là đưa
ra một lý tưởng chân, thiện, mỹ để tín đồ noi gương học hỏi,
tu tập, làm lành, lánh dữ. PGHH đã làm tròn chức năng cần
thiết này của một tôn giáo, dù không có tầng lớp tăng lữ.
Trong khi đó, có những tôn giáo khác, chính giai cấp tăng lữ
đã trở thành một tập đoàn độc tài, chuyên chế, hủ hóa, tồi
bài, cùm đầu tín đồ trong yếu hèn, nô lệ và xiềng xích nhân
dân trong độc tài, áp bức, như trường hợp của giai cấp tăng lữ
Bà La Môn giáo tại ấn
độ và giai cấp
tăng lữ Thiên Chúa giáo La Mã.
Trong Phật giáo, tân tăng là sự cải cách
cấp tiến nhất, mà Phật giáo Nhật Bản đã thực hiện từ thời Minh
Trị Thiên Hoàng trong thế kỷ 19 (đa số tăng sĩ PGH tại Nhật
đều là những người có vợ con), Trước khi Huỳnh Phú Sổ khai đạo
PGHH một năm, vào tháng 8 năm 1938, trong tạp chí Phật học
Tiến Hóa số tám của Hội Phật Học Kiêm Tế ở Rạch Giá, ký giả
Giác Tha đã kêu gọi cải cách Phật giáo một cách triệt để,
nghĩa là phải hủy bỏ hình thức đầu tròn áo vuông của tăng sĩ,
thiết lập tân tăng như ở Nhật Bản. ông còn cho rằng việc này
là thích hợp với đạo Phật, còn hình thức tôn giáo chỉ là cái
lớp vỏ bên ngoài không quan trọng:
"Phật giáo muốn
khỏi sa vào vòng tội ác của tôn giáo, muốn vĩnh viễn tồn tại
cứu khổ cho thế gian, thì PGH phải hoàn toàn cải cách... Hiện
nay nhân loại ham chuộng khoa học và triết lý mới, họ yêu cầu
thực hiện hòa bình, hạnh phúc, là phải thời cho PG cởi bỏ cái
lốt tôn giáo cũ đặng lòi cái mặt thật của mình" (Nguyễn Lang,
Phật giáo Việgt Nam Sử Luận, q 3, t 45).
Bộ mặt thật của Phật giáo là gì?
đây là một câu
hỏi thật quan trọng. đạo
Phật là một con đường tu học tâm linh, là một phương pháp diệt
khổ, ban vui, là một khoa học giác ngộ, giải thoát, là một
phương tiện thực tập hạnh phúc, an lạc, là một mẫu mực luân
lý, đạo đức xã hội. đạo
Phật không phải là những giáo điều để phục tòng nô lệ, không
phải là những lễ nghi tôn giáo để van xin, cầu khẩn, không
phải là những hình thức, danh tướng để trưng bày, lễ bái. Lời
kêu gọi đạo Phật hãy khai mở bộ mặt thật của mình này, cho đến
ngày nay cũng chưa thấy có bao nhiêu tăng, ni, Phật tử hưởng
ứng. Thế nhưng chỉ một năm sau, Huỳnh Phú Sổ còn đi xa hơn PG
Nhật Bản trong việc thành lập một tông phái PG không có tầng
lớp tăng sĩ.
Giải pháp của ông không những cấp tiến hơn
mà còn khôn ngoan hơn là giải pháp "tân tăng". Nói "tân tăng"
đương nhiên là bị chống đối, tẩy chay vì PGVN rất bảo thủ,
vượt qua vấn đề "tân tăng", vượt qua luôn cả sự phân biệt giữa
tăng sĩ và cư sĩ, tất cả Phật tủ đều là con tinh thần của
đức Phật, và
đều có Phật tánh và khả năng giác ngộ bình đẳng như nhau, đều
có thể tự mình trực tiếp học hỏi, truyền bá, áp dụng, thực
hành Phật pháp. Tại sao phải cần những người trung gian là
giới tăng lữ?
Huỳnh Phú Sổ đã vượt qua, một cách nhẹ
nhàng, tài tình, như không vượt qua gì cả, một vấn đề gay cấn,
nguy hiểm. ông đã giải quyết, một cách hoàn hảo, trọn vẹn, như
không giải quyết gì cả, một vấn đề gai gốc, phức tạp. Cũng như
vấn đề mê tín dị đoan, bám rễ sâu dài vững chắc như núi như
non trong sinh hoạt dân gian suốt hàng ngàn năm, đã bị ông xô
ngã, phá hủy tất cả, một cách nhẹ nhàng, unh dung, như không
xô ngã, phá hủy gì cả.
Trong 2500 năm lịch sử Phật giáo thế giới,
ông là người đầu tiên thành công trong việc thiết lập, duy
trì, phát triển một tông phái PGH, một giáo hội PG chỉ có "nhị
bảo". ông cũng
là người đầu tiên trong 2.000 năm lịch sử PGVN, thành công
trong việc xây dựng một đoàn thể tu học Phật pháp với cả triệu
thành viên mà không có sự tham dự của giới tăng già trong bất
cứ một vai trò gì. Sáng Giá Học Hội (Soka Gakkai) của Nhật
Bản, một tổ chức cư sĩ Phật giáo lấy nguồn gốc giáo lý từ Nhật
Liên Tông là một tổ chức duy nhất của Phật giáo thế giới có
thể so sánh với PGHH.
Tại Việt Nam, một tổ chức Phật học duy nhất
có ít nhiều đặc tính như PGHH, là Hội Nam Kỳ Nghiên cúu Phật
Học, lúc đầu có sự tham dự của tăng già nhưng về sau, đặc biệt
là sau 64, khi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được
thành lập, vai trò của tăng già càng trở nên khiêm tốn hơn,
nhưng hội Phật học này chưa có tầm vóc để có thể so sánh với
PGHH.
Huỳnh Phú Sổ, không nói ra, nhưng qua tư
tưởng, hành động của ông, muốn đạo Phật tự giới thiệu, tự khai
mở một mặt thật của mình, từ hàng trăm năm nay, bị chôn vùi
trong những hình tướng, những tập tục mê tín dị đoan cũng như
sự mặc cảm, an phận, yếu hèn, lười biếng của người Phật tử.
Mỗi người hãy tự thân tinh tấn tu tập để
trở thành Phật. đó
chính là thông điệp hùng tráng, mầu nhiệm nhất mà
đức Phật đã gởi
đến nhân loại. Nhưng những đứa con của Ngài đã không lắng
nghe, đáp ứng, thanh tựu lời kêu gọi linh thiêng và tha thiết
này. Trong thời đó, giới tăng già thì đa phần chỉ lo việc nghi
lễ, tụng niệm, cúng kiếng, giới Phật tử thì chỉ cầu xin những
điều lặt vặt, mộng huyễn và tự hài lòng với nhiệm vụ hổ trợ
cho người khác tu dùm mình, cầu xin dùm mình, như một kẻ phụ
thuộc, đứng bên lề sinh hoạt Phật giáo.
Thầy Trí Quang, ngay từ thập niên 50 đã phê
bình thái độ thụ động, tiêu cực này một cách nặng nề:
"Ngày nay cũng vẫn có những người
tại gia nghĩ rằng mình chỉ là những kẻ tùy thuộc trong Phật
giáo. Nhưng đó chỉ là ý nghĩ tự ti phát sinh bởi tinh thần vô
trách nhiệm" (Người Phật Tử Tại Gia, trang 1).
Tuy Phật giáo chưa bao giờ trở thành một
tôn giáo cùm gông, nô lệ hóa con người và giới tăng lũ chưa
bao giờ trở thành một giai cấp sa đọa, thối nát, chuyên chế
nhưc các tôn giáo khác trong những giai đoạn suy đồi của họ,
nhưng vào đầu thế kỷ 20, quả thật giới tăng già Việt Nam đã
không còn mang được những nét tinh anh, sáng lạn của Phật giáo
thời Lý Trần, cũng như không còn chuyên chở, thể hiện sinh
động đặc chất trí tuệ, giác ngộ, giải thoát của
đức Phật. Hình
ảnh vị tăng đã trở thành một hình ảnh tiêu cực: đó là hình ảnh
của ông thầy cúng, chuyên nghề đưa đám ma, tuy không lý tài
trắng trợn như bên đạo Thiên Chúa (giá cả đã được các ông cha
quy định sẵn tùy theo tín đồ muốn đơn giản hay trang trọng),
nhưng thực chất cũng chỉ là một cách kiếm tiền, ít nhiều có
tính cách mê tín dị đoan theo giáo lý của
đức Phật (là sự
đầu thai vào các cảnh giới cao thấp trong tương lai hay sự
sướng, khổ, vui, buồn, sang hèn, giàu nghèo trong hiện tại
phần lớn là do mình đã và đang tạo ra thiện nghiệp hay ác
nghiệp, chớ không phải do cầu xin, hối lộ, đút lót Phật, Trời,
thần thánh mà được như ý).
Dù việc cầu siêu, ma chay thường được biện
minh là "Dĩ huyễn độ chơn" (lấy việc giả huyển này để độ cho
người biết đến Phật pháp) nhưng nhiều vị danh tăng, như Thầy
Thanh Từ đã phê bình mạnh mẽ như sau:
"Khi Phật còn tại thế, chúng ta có nghe
Ngài đi đưa đám lần nào đâu. Cho đến chư Tỳ kheo môn đồ của
Phật, cũng không nghe đi đưa đám lần nào. Tại sao chúng ta
hiện nay cứ bận rộn đám ma, đám tuần mãi? Bởi tăng, ni xuất
hiện trong xóm làng đều do nhà có ma chay, nên bất thần tăng,
nin đến nhà thường nào họ liền ghét sợ, coi như một điềm bất
tường sắp đến cho gia đình họ. Thực là ngày xưa xem "Một vị
tăng đến là một Phật lại", ngày nay thì ngược lại. Thử họi còn
gì hổ thẹn cho bằng" (Bước
đầu Học Phật,
tragn 65). Ngày nay những tệ đoan này vẫn còn phổ thông thì
thời của Huỳnh Phú Sổ, thập niên 40, nhất là tạc các vùng quê,
nạn mê tín dị đoan và hình ảnh tăng ni ở nông thôn, thường là
vô học hay ít học, còn tệ hại như thế nào?
Huỳnh Phú Sổ, trong rất nhiều tác phẩm, đều
tự xưng là "bần tăng", "tăng sĩ", và đã thật sự sống một cuộc
đời đạo hạnh như một người xuất gia: ăn chay, không lập gia
đình, không yêu thương, dành hết mọi thời gian cho việc sáng
tác, diễn dịch kinh sách, truyền đạo, giảng dạy tín đồ.
ông làm một
thánh tăng, một người trọn đời hiến dâng cho việc truyền bá
Phật pháp và cứu độ chúng sanh. Không có bất cứ một tăng sĩ
Việt Nam nào, cùng thời đó, như các danh tăng Khánh Anh, Khánh
Hòa, đôn Hậu,
Thiện Chiếu, v.v... có thể so sánh vớ ông trong sự nghiệp
hoằng pháp độ sinh, cũng như thời nay, những tăng sĩ ưu tú,
Giác Nhiên, Thiện Hoa, Thanh Từ, Nhất Hạnh đều không tạo được
một ảnh hưởng sâu rộng, lớn lao trong việc canh tân Phật giáo
và truyền bá, phục hưng PGVN như Huỳnh Phú Sổ đã làm trong
cuộc đời hoạt động ngắn ngủi của ông tính đến năm 27 tuổi.
Việc ông cạo đầu, mặc áo nâu sòng, để trở
thành một tăng sĩ là điều ông hay bất cứu ai có thân thể và
ngũ căn bình thường, đều có thể thực hiện dễ dàng. Thế nhưng
tại sao ông vẫn giữ hình dáng cư sĩ?
Các vị bồ tát hóa thân để cứu độ chúng sanh
thường tùy thuận, tùy duyên mà hóa thân, cứu độ. Trong những
thời không có hình tướng Cháp Pháp, họ sẽ hóa thân thành tăng,
ni và xây chùa, đúc tượng.
Trong những thời Chánh Pháp bị suy đồi vì
hình tướng giả dỗi đã lấn áp, che phủ nội dung Phật pháp, thì
họ hóa thân thành cư sĩ, Phật tử bình thường và khai mở sự
sùng bái và vông thân trong hình tướng và khai mở chân tướng
cũa đạo Phật, tức là Phật pah1p và sự học hỏi, tu tập, áp dụng
Phật pháp vào giữa cuộc đời. Như Duy Ma Cật, như Huệ Năng, như
Tuệ Trung , Huỳnh Phú Sổ đã xuất hiện như một cư sĩ sống hòa
lẫn giữa thế gian để đem viên ngọc Chánh Pháp chiếu sáng trong
lòng dân gian, xã hội.
Không những không cạo trọc đầu như các tăng
sĩ, ông cũng
không cắt tóc ngắn như đa số thanh niên nam phái đương thời,
mà còn để tóc dài như các cụ thời xưa, thuộc thế kỷ trước.
Nhiều người bắt chước để tóc dài như
ông, coi đó là
một cách tu, cách chứng tỏ mình là người thuộc phái "tu hiền"
như ông.
ông liền dạy
rằng tu hành là tu hành, để tóc là để tóc, tu hành không cần
để tóc và để tóc không chứng minh được rằng mình là người tu
hành:
"Sở dĩ Thầy để tóc
là muốn giữ kỷ niệm cái phong tục cổ của tổ tiên, và tỏ cho
thiên hạ biết Thầy không chịu ảnh hưởng của cái đời văn minh
vật chất Tây Phương".
Các tín đồ bắt chước, cũng để tóc dài.
Huỳnh Giáo Chủ thấy vậy liền dạy:
"Tu là tu, để tóc
là để tóc, và tu không phải là để túc, để tóc cũng không phải
là tu. Nếu để tóc mà không chịu trau tâm sửa tánh, cũng chẳng
phải là tu hành".
Nghĩa là
ông đã phát
triệt để mọi hình tướng. Cũng thế, cạo đầu, mặc áo cà sa không
hẳn là có tu hành, và có tu hành không hẳn là phải xuất gia vô
chùa. Quan niệm này thật phóng khoáng, hợp lý và hợp thời đại.
Tuy nhiên ông
vẫn dạy tín đồ hết lòng cung kính các tăng sĩ cũng như tùy
nghi tu bổ các chùa chiền đổ nát. Không ai đi được trên con
đường "trung đạo" tuyệt vời như thế, trước những vấn đề đầy
mâu thuẩn, xung đột, chỉ thường bắt buộc mọi người phải lựa
chọn dứt khoát hoặc có, hoặc không.
ông nói rõ,
trong phần đối với các tăng sư:
"Tất cả bổn đạo nên cung kính các tăng sư
tu hành chân chính. Nếu các ông ấy có dạy điều chánh lý, phải
nghe lời. đối
với những hạng tu hành mà mình biết rõ là dối thế (như mấy ông
thầy cúng) hãy tìm cách khuyên can các ông trở lại con đường
chân chính của đức
Phật. Nếu các ông vẫn tiếp tục làm điều tà mị, mình phải bài
trừ triệt để và giảng dạy cho quần chúng cùng những tín đồ nhà
Phật hiểu đặng xa lánh họ".
điều
này thì Thầy Thanh Từ chắc là rất đồng ý. Trong phần đối với
chùa chiền, ông cũng có một thái độ cấp tiến nhưng vẹn toàn:
"những ngày vía
của các đức
Phật, ngày rằm hay ba mươi, mình muốn đi chùa cũng tốt, đặng
lễ Phật, dưng hoa, không có cấm. Nếu chùa nào nghèo, hư, rách,
mà mình giúp đỡ được càng tốt, có điều mình không nên mua sắm
hình tượng cho nhiều. Khi đến chùa cũng phải tôn trọng sự thờ
phượng trong chùa, không nên hủy báng".
điều
này thì hòa thượng Từ Thông, hiệu trưởng trường Cơ Bản Phật
Học Sài Gòn và giảng sư trường Cao Cấp Phật Học, chắc là rất
chịu (nhiều tín đồ muốn ông xây một tượng Phật Quan âm tại am
Huỳnh Mai của ông, họ chịu hết phí tổn, cả 5, 7 chục triệu
đồng, còn biếu ông vài chục triệu xài, nhưng ông nhất định
không chịu). Kể cũng lạ, không lẽ hòa thượng Từ Thông còn muốn
cải cách Phật giáo mạnh bạo hơn là Huỳnh Giáo Chủ?.
đó có lẽ cũng
phù hợp với chủ trương của Thầy Nhất Hạnh: tự mình không lập
chùa nhưng hết lòng giúp đỡ sửa chữa, trùng tu những ngôi chùa
đổ nát ở trong nước.
Một đoàn thể tu học, một tổ chức phật tử,
một giáo hội Phật giáo không có tăng sĩ, đây quả thật là một
cuộc cách mạng, một điều táo bạo, kinh khủng đối với đa số
Phật tử, kể cả Phật tử đời nay tại hải ngoại. Những thói quen
lâu đời, những tập quán hàng ngàn năm khiến mọi người chấp
chặt vào nhữnh hình tướng và đồng hóa hình thức với nội dung
và mang tà kiến sai lầm là không có hình tướng đó thì không
phải là đạo Phật.
Huỳnh Phú Sổ đã đập vở các thành kiến lệch
lạch này, một cách khôn khéo, tốt đẹp. Nhưng phải chăng vì
PGHH không có hình ảnh các tăng ni mà cho đến nay PGHH vẫn bị
coi là không phải Phật giáo "chân chính" hay "truyền thống"?.
Nếu những người không hiểu gì Phật pháp và
không sống theo những giới luật tối thiểu của đức Phật, như là
không tà dâm, hay không nói dối, và họ chỉ cần cạo trọc đầu,
mặc áo cà sa là trở thành "tăng sĩ", thành "Phật giáo" thì có
hợp lý và chính danh hay không?
Và Huỳnh Phú Sổ, cả một cuộc đời hy sinh
tất cả cho việc hoằng pháp, lợi sinh, cống hiến tất cả cho
việc truyền bá Phật pháp, bằng những phương tiện thiện xảo,
hoàn hảo nhất, đối với hàng triệu nông dân ít học, bị tà giáo
và tà thần đầu độc, khống chế, và
ông, hơn hẳn
tất cả tăng, ni, Phật tử khác trong thế kỷ 20 này, đã thành
tựu một sự nghiệp cải cách và phục hưng đạo Phật chưa từng có,
nếu coi ông không phải là Phật giáo và coi PGHH không phải là
một bộ phận máu huyết, ruột thịt, thân thích không thể tách
rời của PGVN là có hợp lý, đứng đắn hay không?
Trong tiến trình phát triển, PGHH cũng có
những tu sĩ, nhưng như vị giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, những tu sĩ
PGHH này không mang hình tướng đầu tròn áo vuông. Cái hay là
họ không phải là tăng, nên không có vấn đề "tân tăng" hay
không "tân tăng". Họ chỉ là những tu sĩ tại gia, và tư cách tu
sĩ PGHH này được tín đồ PGHH công nhận vì đạo đức, khả năng
Phật học và công đức hoằng pháp phụng sự đạo pháp của họ chớ
không phải là hình tướng bên ngoài.
Cho đến năm 1973, PGHH có 24 ban trị sự
tỉnh, 6 ban trị sự thị xã, 82 ban trị sự quận, 476 ban trị sự
xã, 3100 ban trị sự ấp, cơ sở tự viện có 213 chùa chiền, tự
viện , 468 đọc giảng đường, một đại học với 7 phân khoa, một
bịnh viện hơn 200 giường, 452 hội quán, 2876 văn phòng với
nhân sự khá hùng hậu: 2679 tu sĩ và nhân viên tại các tự viện,
khoảng 10.000 nhân viên và khóa sinh ngành phổ thông giáo lý,
36.500 trị sự viên các cấp và khoảng 2.000.000 tín đồ. Không
có một tăng, ni thuộc Phật giáo nguyên thủy hay Phật giáo đại
thừa, hay Phật giáo khất sĩ nào tham gia PGHH, thế nhưng Huỳnh
Phú Sổ đã tạo được một đoàn thể Phật giáo có kỷ cương và có
phẩm chất tu học cao, đúng với tinh thần giáo lý của
đức Phật. Phật
Giáo Việt Nam trong những năm thịnh đạt của thế kỷ này, có khi
có hơn 40.000 tăng, ni, hiện nay thì có khoảng 20.000 tăng,
ni. Số lượng tăng ni lớn lao này đã đóng góp được gì cho việc
hoằng pháp độ sinh, việc đoàn ngủ hóa Phật tử và việc nâng cao
phẩm chất tu học và khả năng hộ đạo, hưng quốc của Phật giáo
đồ???
5/ Học Phật Tu
Nhân, áp dụng thuyết tứ ân, đưa đạo Phật vào cuộc đời, tích
cực phụng sự xã hội, đất nước, đồng bào, nhân loại.
Phật giáo là một tôn giáo để sống, để thực
hành, để tự mình chứng nghiệm chớ không phải là một hệ thống
lý thuyết để tôn thờ, qùy lạy, chiêm ngưỡng. Huỳnh Phú Sổ đã
triệt để đả phá, cởi bỏ mọi hình tướng trói buộc, che khuất
tinh hoa, cốt tủy đạo Phật và làm tín đồ hiểu sai lạc mục
đích, ý nghĩa của đạo Phật.
ông vừa xây
dựng một đạo Phật phù hợp với quảng đại quần chúng vừa thích
nghi với thời đại. 30 năm trước, hòa thượng Thích
đức Nhuận,
Huỳnh Phú Sổ đã kêu gọi "trao cho nông dân và trao cho thời
đại một nội dung Phật chất", đó là yếu chỉ, là thông điệp và
khẩu hiệu hành động của ông. 80 % dân số Việt Nam là nông dân
nên khẩu hiệu này của Huỳnh Phù Sổ không những đi trước rất
xa, mà còn đi sâu, đi rộng, một cách thực tế, cụ thể hơn Thầy
đức Nhuận rất
nhiều.
Học Phật, Tu Nhân là đặc chất của nền Phật
giáo nhân gian và thời đại mà ông chủ xướng. Không nói cao xa
và lý thuyết. đây
là chủ đích của ông, và thú thật, đối với đạo Phật thì nói
thấp, nói để ai cũng hiểu được, thực hành được thì khó hơn rất
nhiều lần nói cao siêu, trí thức, bác học: "dạy bổn đạo lấy
câu trung đẳng, chẳng nói cao vì rốt đời". Chính đức Phật cũng
bát bỏ những sự giảng dạy, tranh luận về các vấn đề siêu hình,
trụ tượng về con người nếu đào sâu cho rốt ráo cùng triệt các
vấn đề này thì họ sẽ chết trước khi thấu hiểu trọn vẹn vũ trụ.
đem cái đầu óc tôn thờ triết lý, ý thức hệ của Tây Phương để
tìm kiếm một cái gì cao siêu, thông thái trong tư tưởng Huỳnh
Phú Sổ là một việc làm không thích hợp. Tư tưởng của ông là tư
tưởng Phật học, tuy nhiên như những nhà lãnh đạo cộng sản khi
truyền bá chủ nghĩa Mác Xít tại Việt Nam họ đã không giảng dạy
về tư bản luận cho nông dân nghe, họ chỉ nói phân chia ruộng
đất cho dân nghèo, là điều phù hợp với truyền thống quân phân
điền thổ của Việt Nam, Huỳnh Phú Sổ chỉ chọn lọc một số tư
tưởng căn bản của Phật giáo và diễn giảng cho thích hợp với
nông dân. Tuy nhiên đó không phải là tư tưởng tầm thường, hời
hợt, mà trái lại đó là phần căn bản, phần tinh hoa, phần "Phật
pháp bất ly thế gian pháp" của Phật đạo.
Với chủ đích: "Thuyền
bát nhã ta cầm tay lái, quyết đưa người khỏi bến sông mê",
Huỳnh Phú Sổ để thích nghi với căn cơ, trình độ của quảng đại
quần chúng nông thôn, đã thâu tóm tinh hoa đạo Phật, một cách
đơn giản nhưng đầy đủ, thành chủ trương học Phật tu nhân, như
nền tảng của giáo lý PGHH. Học Phật có ý nghĩa là học và thực
hành những lời Phật dạy, cụ thể là học những giáo lý căn bản
như Tam độc tham, sân, si, tứ diệu đế, tứ vô lượng tâm, từ,
bi, hỉ, xả, ngủ giới, ngủ uẩn, lục căn, lục trần, lục độ, bát
chánh đạo, thập nhị nhân duyên, v.v... ông dạy cụ thể như sau:
"Nếu ta tìm con
đường bát
chánh
đạo của Phật mà
đi, giữ tâm thanh tịnh, làm việc nhân từ, không lòng hờn giận,
chẳng dạ ghét ganh, chuyên tâm niệm Phật, giúp thế độ đời,
đừng chứa điều phiền não, và để bụng tham lam, ích kỷ, gây mối
thiện duyên, lần lần trí huệ mở mang, cõi lòng sáng suốt, thì
màn vô minh sẽ bị diệt mất. Vô minh bị diệt thì hành bị diệt,
hành bị diệt thì thức bị diệt, thức bị diệt thì danh sắc diệt,
danh sắc diệt thì lục nhập diệt, lục nhập diệt thì xúc động
diệt, xúc động diệt thì thọ cảm diệt, thọ cảm diệt thì ái
diệt, ái diệt thì bảo thủ diệt, bảo thủ diệt thì hữu diệt, hữu
bị diệt thì sanh diệt, sanh bị diệt thì lão tử diệt.
ấy là giải
thoát vậy".
đối
với nông dân mà giảng như thế là đã rất cao.
ông cũng giảng
dạy phải phá tướng chấp mình, chấp người thì mới mong giải
thoát: "Tâm trần tục còn phân
nhơn, ngã, thì làm sao thoát khỏi luân hồi". Dùng
trí tuệ dể diệt vọng tâm thì chân tâm, tức Phật tánh hiện bày,
tinh yếu này của Phật đạo và của Thiền Tông cũng được
ông giảng dạy:
"Mài gươm trí cho tinh, cho
khiết, Dứt tâm trần kiếm chữ sắc không".
ông đã đi đến
chỗ cao sâu, huyền diệu của đạo Giải Thoát: "Phật
tại tâm chớ ở đâu xa, Mà tìm kiếm ở trên non núi. đạo Thích Ca
nhiều não cao sâu. Hãy tìm kiếm cái không mới có".
Nhìn chung thì phần Học Phật mà
ông trình bày,
giảng dạy chính là đạo Phật nguyên thủy, đạo Phật chân chánh
chớ không là gì khác. Chỉ vì căn cơ, trình độ của người nghe
Pháp còn thấp nên ông
chỉ tóm lược và nói những phần căn bản và đơn giản mà thôi.
Trong phần Học Phật, có phần thực hành thì
ông có dạy về
cốt tủy của Thiền Tông, là khai mở cái chân tâm, nhưng không
dạy tín đồ phương pháp ngồi Thiền, mà chị dạy về Tịnh
độ, nghĩa là
niệm Phật. đây
là điều dễ hiểu vì đại đa số dân chúng, ngay cả tầng lớp thị
dân, cũng chỉ thích hợp với Tịnh độ. Thiền Tông chỉ dành cho
hạng có trình độ trí tuệ khá cao, và từ đầu thế kỷ, đã coi như
thất truyền. đối với nông dân, giảng dạy Phật học căn bản và
khuyên làm lành, lánh dữ, niệm Phật, giữ thân khẩu, ý thanh
tịnh, trong sạch là thích hợp nhất, không ai có thể làm khác.
Tứ
ân
Phần đặc sắc của tư tưởng Phật học Huỳnh
Phú Sổ, và của PGHH là phần Tu Nhân, tức là thực hành hạnh Tứ
ân, bốn ân lớn, là ân tổ tiên, cha mẹ, ân đất nước, ân tam bảo
và ân đồng bào và nhân loại. Con người phải làm tròn bốn ân
lớn này thì mới xứng đáng là một người con Phật và mới mong
được dự hội Long Hoa.
điểm
đặc biệt là theo quan niệm Phật giáo cổ truyền thì một trong
tứ ân là ân quốc vương, đứng vào hàng thứ ba, Huỳnh Phú Sổ,
cũng như Phật Thầy Tây An sửa lại là ân đối với quê hương đất
nước và đưa lên hàng thứ hai, chỉ sau ân tổ tiên, cha mẹ.
điều này hết
sức chí lý, chính đức
Phật cũng phải công nhận: "Phụ
mẫu tại tiền như Phật tại thế" (cha mẹ còn sống
trên đời là cũng giống như chư Phật còn sống trên thế gian),
và chính Ngài còn tuyên bố: "Tội
lớn nhtấ là tội bất hiếu, phước lớn nhất là phước hiếu thảo".
Hòa Thượng Thanh Từ còn khẳng định: "Người
nào phụng dưỡng đầy đủ cha mẹ thì dù không cúng dường tam bảo,
công đức cũng rất lớn. Kẻ nào cúng dường tam bảo rất nhiều mà
để cho cha mẹ thiếu thốn đói khổ thì cũng không có công đức gì
cả". Nên ân đầu tiên của con người là ân tổ tiên,
cha mẹ là hết sức đứng đắn, hợp tình hợp lý.
ân
thứ đến là ân quê hương, đất nước lại càng chính xác, hợp đạo
lý hơn nữa. Huỳnh Phú Sổ đã giảng dạy rất cảm động như sau: "Muốn
làm tròn nhân đạo phải giữ vẹn tứ ân.
ân tổ tiên,
cha mẹ:
Ta sinh ra ở đời cha mẹ ta chịu biết bao khổ nhọc, nhưng sanh
ra cha mẹ là nhờ có tổ tiên nên khi biết ơn cha mẹ, cũng có
bổn phận phải biết ơn tổ tiên nữa...
ân đất nước:
Sanh ra, ta phải nhờ tổ tiên, cha mẹ, sống ta cũng nhờ đất
nước, quê hương. Hưởng những tấc đất, ăn những ngọn rau, muốn
cho sự sống được dễ dàng, giống nòi được truyền thụ, ta cảm
thấy bổn phận phải bảo vệ đất nước khi bị kẻ xâm lăng giày
xéo. Ráng nâng đỡ xứ sở, quê hương lúc nghiêng nghèo và làm
cho trở nên cường thạnh. Ráng cấp cứu nước nhà khi bị kẻ ngoài
thống trị. Bờ cõi vững lặng thân ta mới yên, quốc gia mạnh
giàu mình ta mới ấm. Hãy tùy tài tùy sức, nổ lực hy sinh cho
xứ sở. Thảng như không đủ tài lực đảm đương việc lớn, chưa gặp
thời cơ giúp đở quê hương, ta phải rán tránh đừng làm gì sơ
xuất đến nổi làm cho quê hương đau khổ, chớ đừng giúp sức cho
kẻ ngoại địch gây sự tổn hại đến đất nước...".
Sau ân tổ tiên, cha mẹ và ân quê hương đất
nước, Huỳnh Phú Sổ, khi đó chỉ mới 25 tuổi, cũng đã chỉ rõ ân
Tam bảo và ân đồng bào, nhân loại như sau:
"ân
Tam bảo: Tam bảo
là gì? Tức Phật, Pháp, Tăng. Con người nhờ ơn tổ tiên, cha mẹ
sanh ra, nuôi dưỡng, nhờ đất nước tạo kiếp sống cho mình. ấy
là về phương diện vật chất. Về phương diện tinh thần, con
người cần nhờ đến sự giúp đỡ của Phật, Pháp, Tăng khai mở trí
óc cho sáng suốt. Phật là đấng toàn thiện, toàn mỹ, bác ái vô
cùng, quyết cứu vớt sanh linh ra khỏi trầm luân, khổ hải. Thế
nên Ngài mới truyền lại giáo pháp, tức là những lời chỉ dạy,
cho các chư tăng đặng đem nền đạo cả của Ngài ban bố khắp trần
thế. Các chư tăng chẳng ai lạ hơn, đó chính là những đại đệ tử
của đức Phật
vậy. Bởi vì đức
Phật luôn luôn chỉ dẫn và cứu với quần sanh khỏi miền mê khổ,
nên ta hãy kính trọng Phật, hãy tin tưởng và tín nhiệm vào sự
nghiệp cứu đời của Ngài, làm theo những điều chỉ dạy do các
chư tăng cho biết.
Tổ tiên ta đã hiểu
rõ sự nhiệm mầu, lòng quảng ái của Phật đối với chúng sanh, đã
kính trọng sùng bái Ngài, đã hành động đúng theo khuôn khổ
Ngài đã dạy và đã vun gtrồng bồi đắp cho nền đạo được phát
triển thêm ra, xây dựng một tòa lâu đài đạo hạnh vô thượng vô
song, lưu truyền mãi mãi với hậu thế. Nên bổn phận chúng ta
phải noi theo chí đức của tiền nhân hầu làm cho trí tuệ minh
mẫn đặng đi đến con đường giải thoát, dẫn dắt dùm kẻ sơ cơ và
nhất là phải tiếp tục khai thông nền đạo đức đặng cái tinh
thần từ bi bác ái được gieo rải kháp nơi nơi trong bá tánh.
Như thế mới chẳng phụ công trình vĩ đại của
đức Phật và của
tiền nhân để lại và không đắc tội với kẻ đời sau vậy.
ân đồng bào và
nhân loại:
Con người vừa mở mắt chào đời đã thấy mình phải nhờ đến sự
giúp đỡ của những kẻ xung quanh, và cái niênkỷ càng lớn thêm
bao nhiêu, sự nhờ nhõi càng tuần tự thêm nhiều chừng nấy. Ta
nhờ hột cơm của họ mới sống, nhờ miếng vải của họ mới ấm thân,
nhờ nhà cửa của họ mới tránh cơn phong vũ. Vui sướng: ta đồng
hưởng với họ. Hoạn nạn: họ cùng chia với ta. Họ và ta cùng một
màu da, cùng nói một thứ tiếng. Ta và họ hợp nhau thì thành
lại làm một: ấy Quốc gia đó. Họ lạ ai? Tức là những người ta
thường gọi bằng đồng bào vậy.
đồng bào ta và
ta cùng chung một chủng tộc, cùng một nòi giống roi truyền
cùng chung những trang sử vẻ vang oanh liệt, cùng tương trợ
lẫn nhau trong cơn nguy biến, cùng chung phận sự đào tạo một
tương lai rực rỡ trong bước tiền đồ của giang sơn đất nước.
đồng bào ta và ta có những liên quan mật thiết, không thể tách
rời, chẳng thể chia nhau, và chẳng khi nào có ta mà không có
đồng bào, hay có đồng bào mà không có ta. Thế nên, ta phải
ráng giúp đỡ họ hầu đáp đền cái ơn mà ta đã thọ trong muôn
một.
Chẳng những thế
thôi, ngoài đồng bào, ta còn có thế giới người đang cần lao
cung cấp những điều nhu cầu cần thiết. Họ là nhân loại, là
những người đang sanh sống với chúng ta trên quả địa cầu. Nếu
không có nhân loại, thử hỏi dân tộc ta ra như thế nào? ... Dân
tộc ta phải nhờ nhân loại, nghĩa là nhờ đến dân tộc khác và
biết ơn họ. Hãy nghĩ đến họ cũng như mình nghĩ đến mình và
đồng chủng mình. Vả lại cái tình từ bi bác ái của đức Phật mà
ta đã nhận thức, rất thâm huyền quảng hượt. Cái tình ấy, nó
không bến không bờ, không phân biệt màu da, không phân biệt
chủng tộc, nó cũng không luận sang hèn và xóa bỏ hết các từng
lớp đẳng cấp xã hội, mà chỉ đặt vào một: Nhân loại chúng sanh.
Thế nên ta không có lý do gì chánh đáng để vì mình hay vì đồng
bào mình, gây ra tai hại cho các dân tộc khác. Trái lại hãy
đặt vào họ một tư tưởng nhân hòa, một tinh thần hỉ xã và hãy
tự xem mình có bổn phận giúp đỡ họ trong cơn hoạn nạn".