Chương năm: Tinh hoa tư tưởng Phật
học và phương thức chấn hưng Phật Giáo của Huỳnh Phú Sổ.
"Loài cầm thú còn hay biết ở.
Huống chi người nở bỏ tứ ân".
Hai câu thơ này, trích trong bài Giảng Giác Mê của Phật Thầy
Tân An, viết trong thập niên 1850, đã cô động được tinh yếu
của Phật Giáo Bửu Sơn Kỳ Hương cũng như Phật Giáo Hòa Hảo. Với
hai ngọn cờ đạo Pháp và Dân Tộc, hay tu hành và yêu nước,
đức Phật Thầy
Tây An, cũng như Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ, qua công thức "Học
Phật Tu Nhân" đã kêu gọi tín đồ thực hành Tứ Ấn, như bổn phận
căn bản của người tu hành và cũng là người công dân. Ai trả
trọn bốn ân lớn, tức ân tổ tiên cha mẹ, ân quê hương, đất
nước, ân tam bảo Phật, Pháp Tăng, và ân đồng bào, nhân loại
tức là đã làm tròn bổn phận con người và có đủ điều kiện để
tham dự Hội Long Hoa trong thời hạ ngươn, mạt pháp này.
Hãy mau học Phật tu nhân, hãy tích cực, dũng mãnh thực hiện
hạnh Tứ Ấn để được Phật Trời cứu độ trong Hội Long sắp đến.
Thật là một thông điệp hàm xúc, hấp dẫn và mạnh mẽ, một thông
điệp giản dị, đơn sơ, chất phác nhưng có khả năng thức tỉnh
lớn lao, thức tỉnh khỏi tham, sân, si, danh, lợi, dục lạc thế
gian, thức tỉnh khỏi vũng lầy sinh hoạt mê tín dị đoan đồng
bóng, bùa ngãi, thức tỉnh trước cảnh khổ của nhân sinh và cảnh
nô lệ ngoại bang.
Hai chữ Tứ Ấn vừa có đủ từ bi, trí tuệ, vừa có đủ đại lực đại
hùng của đức
Phật Thầy và của Huỳnh Giáo Chủ là đủ để đập vỡ những quan
niệm phê bình Phật Giáo là ích kỷ, yếm thế, thụ động, yếu hèn,
vô dụng. Tứ Ấn thật sự cao cả hơn, tích cực hơn mười điều răn
của Thiên Chúa Giáo hay ngũ giới trong Phật Giáo. Tứ Ấn đưa
mỗi con người vươn lên cao đến tổ tiên, tiền nhân, vươn lên
cao đến tổ quốc, dân tộc, vươn lên cao đến Chư Phật, Bồ Tát,
và vươn lên cao đến nhân loại trên khắp địa cầu.
Một nông dân chơn chất, thường là không biết chữ, ngay từ thế
kỷ 19, trên đồng bằng sông Cửu Long hiền hòa nhưng cô lập với
thế giới bên ngoài, mà đã thấm nhuần, và không những thế, đã
sống, đã thực hành Tứ Ấn và vươn đến những mức độ cao nhất của
Tâm Thức và Bồ Tát Hạnh như thế, thì đó là một điều vĩ đại và
mầu nhiệm. Nhưng Phật Giáo Hòa Hảo không phải chỉ có thế...
Tuy chỉ được trình bày dưới những bài thơ dễ hiểu, dễ nhớ,
nhưng tư tưởng của Huỳnh Phú Sổ là một cuộc cách mạng mạnh mẽ
trong Phật Giáo và vẫn còn những giá trị thời đại, không những
cho thế kỷ này, mà còn cho các thế kỷ sắp tới.
1/ Phương pháp luận của Huỳnh Phú
Sổ.
Cũng giống như đức
Phật, Huỳnh Phú Sổ đã bác bỏ ngay phương pháp luận của các
triết gia thường đắm chìm trong những suy tư triết học của sự
phân tích, lý luận về những vấn đề siêu hình, trừu tượng thuộc
lãnh vực tư tưởng thuần lý. Và cũng giống như
đức Phật, ông
không mất thì giờ đề cập đến những vấn đề siêu hình về vũ trụ
luận, về thế giới quan, về thân phận con người chung chung.
ông đi thẳng
vào những vấn đề thực tế, cụ thể của con người, của xã hội,
của đất nước. Như các giáo chủ, các nhà hiền triết khác của
đông Phương,
ông trình bày một con đường, một đạo sống, không phải để lý
luận, mà để áp dụng và thực hành trong đời sống hàng ngày.
ông trực tiếp
gởi một thông điệp cứu khổ và giải phóng con người. Và mạnh mẽ
hơn đức Phật và
các vị giáo chủ khác, ông còn mạnh dạn hô hào giải phóng đất
nước, tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế, chống độc tài
dưới mọi hình thức và thực hiện công bằng xã hội.
2/ Hình thức giảng đạo của Huỳnh
Phú Sổ.
ông không lập
thuyết, không đưa ra một ý thức hệ cũng không viết những bài
diễn văn dài dòng, hoa mỹ.
đặc biệt hơn
tất cả giáo chủ, hiền triết khác, ông chỉ giảng đạo bằng thơ,
thơ lục bát và các thể thơ đượm màu sắc dân tộc khác. Cũng
không giống các thiền sư, giảng đạo bằng một số bài kệ, thường
chú trọng vào những vấn đề chứng đắc tâm linh, ông cũng giảng
đạo bằng những bài kệ nhưng là những bài kệ để áp dụng, để
thực hành trong cuộc sống hàng ngày và tất cả mọi người, dù mù
chữ thất học, cũng hiểu được, học thuộc lòng được và áp dụng
được một cách dễ dàng. Nhắm đến đối tượng chính là nông dân,
là quần chúng bình dân ở thôn quê nên tư tưởng và hình thức
hoằng pháp của ông đã giản dị đến cực độ nhưng lại hữu hiệu vô
cùng. Không mấy nông dân Việt Nam nào có thể đọc và hiểu được
Tư Bản Luận của Karl Marx hay các kinh như Hoa Nghiêm, Lăng
Già... nhưng bất cứ ai cũng có thể hiểu và thực hành những lời
khuyên của Huỳnh Phú Sổ.
ông đã Việt hóa
tư tưởng Phật Học một cách tài tình và bình dân hóa
đạo Phật một
cách thần kỳ, mà không đánh mất cốt tủy của nó là con đường
thực hành sự giải thoát, giác ngộ ngay trong cuộc đời.
3/
đối tượng hoằng
pháp.
Khác với đức
Phật hay các thiền sư, cũng khác với các nhà Phật Học hay các
nhà cách mạng đương thời, Huỳnh Phú Sổ giảng đạo và truyền đạo
cho một đối tượng chính và hầu như duy nhất (không kể một vài
trường hợp ngoại lệ), đó là nông dân và quần chúng ở nông
thôn, là thành phần bị bạc đãi, bị thua thiệt mọi mặt trong xã
hội. Vào thập niên 30, 40, tình trạng nông thôn và đời sống
nông dân Việt Nam thật là thấp kém, lạc hậu, ngay cả một tờ
"nhật trình" (nhật báo), một máy thâu thanh cũng hiếm hoi,
sách vỡ, trường học, kinh sách cáng hiếm hơn và số người biết
đọc biết viết thật ít ỏi. Bị dìm trong tình trạng nghèo đói,
thất học, bịnh tật, thiên tai, áp bức và đau khổ triền miên,
đa số nông dân đắm chìm trong rượu chè, cờ bạc, mê tín dị
đoan, đồng bóng, bùa ngãi.
ánh sáng của
văn minh và Phật pháp đã không đến để soi sáng, thăng hoa, về
mặt dân trí cũng như đạo đức, cuộc đời thấp kém, tối tăm của
họ. Với lòng từ bi bao la, với trí tuệ giác ngộ và viễn kiến
chính trị xuất sắc, Huỳnh Phú Sổ đã thấy ở quần chúng nông dân
này, không những là những chúng sanh đáng thương cần cứu độ,
mà còn thấy ở họ một tiềm lực lớn lao cho công cuộc giải phóng
đất nước. ông
đã đến với họ, trao tặng cho họ Phật pháp, đạo đức, niềm tin,
lý tưởng và chuyển hóa họ thành một đoàn thể tu hành chân
chính và thành một lực lượng ái quốc và cứu quốc.
Khi Tạ Thu Thâu, một nhà cách mạng nổi tiếng (bị Việt Minh sát
hại vào cuối năm 1945) hỏi: "Tại sao hầu hết các tín đồ của
Giáo Chủ là nông dân thiếu học?", ông đã trả lời: "Trong một
xã hội có nhiều thành phần người. Quý ông đã lựa chọn giới có
học mà thâu nhận vào đảng và quý ông bỏ rơi đám người nông dân
thiếu học. Quý ông bỏ họ, thì tôi phải cứu vớt họ, chớ không
lẽ bỏ rơi luôn họ sao? Họ cũng là người Việt Nam, là chúng
sanh, và tôi chắc họ sẽ đóng góp nhiều cho công cuộc đấu tranh
sắp tới. Chẳng khác nào quý ông đã lựa chọn chén kiểu chén sứ,
bỏ mảnh sành nồi đất, thôi để tôi lo cho lớp người thất thế
trong xã hội đó". Thật là một sự giải thích giản dị, sâu sắc
và đầy đủ.
4/ Phương thức cứu độ.
Như hầu hết các vị giáo chủ, các nhà tiên tri, Huỳnh Phú Sổ đã
xuất hiện khai đạo với lời báo động về những tai họa khủng
khiếp sắp xẩy ra và kêu gọi mọi người hãy thức tỉnh, lo tu
hành để được cứu độ. Cuộc đại khủng hoảng kinh tế từ cuối thập
niên 20 đã ảnh hưởng nặng nề trên đời sống nông dân và kéo dài
nhiều năm sau đó, trận đệ nhị thế chiến bùng nổ và lan tràn
khắp nơi trên thế giới làm mọi người phải giựt mình lo sợ.
Nhưng Huỳnh Phú Sổ đã báo động và tiên tri về những điều sâu
thẳm hơn và đánh động mãnh liệt hơn đối với nông dân miền Nam,
đó là lời báo động về thời hạ ngươn và tiên tri về hội Long
Hoa, hai điều này đã bàng bạc, âm ỉ trong tâm thức người dân
Lục Tỉnh từ thời Phật Thầy với Bửu Sơn Kỳ Hương gần cả 100 năm
trước đó, và không những thế, nó còn là niềm tin thần bí, nằm
sâu kín trong đáy lòng của đại đa số quần chúng Việt Nam từ cả
ngàn năm nay. Vì nó có liên hệ mật thiết đến Phật Giáo
đại Thừa và
Tịnh độ Tông,
hay đúng hơn Phật Giáo nhân gian, là đích thực tín ngưỡng của
đại đa số Phật Tử Việt Nam cũng như nhân dân Việt Nam.
Sau khi báo động, ông đã cứu độ bằng cách chữa bịnh, bằng
"thuốc Phật" (là nước lã, hoa bưởi, lá chanh...) cho các người
bị bịnh tật và đã thật sự chữa lành nhiều bịnh, kể cả những
bịnh nan y. Việc chữa bịnh thần kỳ này đã gây được niềm tin
cho dân chúng. Sau đó ông bắt đầu thuyết giảng đạo Phật,
khuyên mọi người tu hành, bằng cách ăn hiền ở lành, tránh làm
điều ác, tích cực làm việc thiện, giúp người cứu đời. Sau đó
ông cho họ quy y nhập đạo, đoàn ngũ hóa họ thành một đoàn thể
tu hành, đạo đức, trong một tôn giáo, và cuối cùng đoàn ngũ
hóa cả hàng ngàn, hàng vạn tín đồ nông dân thành một đoàn thể
cách mạng, ái quốc, trong một tổ chức chính trị và một lực
lượng quân sự.
Huỳnh Phú Sổ đã đi xa hơn cả
đức Phật Thích
Ca, hơn cả Chúa Jesus, hơn cả nhà tiên tri Mohammed... Có thể
nói ông là Thích Ca Mâu Ni Việt Nam, là Jesus Christ Việt Nam,
là Mohammed Việt Nam... cho một giai đoạn lịch sử đặc thù Việt
Nam và trong một không gian đặc dị Việt Nam. Và dù đi vượt ra
ngoài phạm vi tôn giáo, ông vẫn là một con người tôn giáo, một
giáo chủ.
Thật là lầm lẫn lớn lao nếu nhìn ông chỉ như là một nhà ái
quốc, một nhà cách mạng hay một nhà chính trị. Hơn tất cả hình
tướng này, ông, trong bản chất và trong thật chất, là một nhà
Phật học và một lãnh tụ Phật Giáo.
Cũng vậy, Phật Giáo Hòa Hảo là một tôn giáo, những sự thể hiện
có màu sắc chính trị, xã hội, quân sự, tranh đấu, chỉ là sự
biểu hiện nhất thời của một giai đoạn lịch sử đặc biệt cuốn
hút tất cả tiềm lực dân tộc vào cuộc đấu tranh sinh tử giải
phóng dân tộc khỏi sự xâm lăng và ách thống trị của ngoại
bang.
Trước Huỳnh Phú Sổ 700 năm, đã có thiền sư Tuệ Trung trực tiếp
cầm quân giết giặc, bảo vệ tổ quốc trong cuộc kháng chiến vẻ
vang chống lại cuộc xâm lăng của đế quốc Mông Cổ... Giáo Chủ
Huỳnh Phú Sổ và các tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo chỉ tiếp nối
truyền thống ái quốc và anh hùng này mà thôi.
5/ Tinh hoa tư tưởng
Huỳnh Phú Sổ.
Tư tưởng của Huỳnh Phú sổ chính là tư tưởng Phật Giáo. ông đã
tuyên bố rõ: "đối với toàn thể tín đồ Phật Giáo, tôi vẫn không
quên rằng tôi là một đệ tự trung thành của đức Phật Thích Ca
Mâu Ni".
- PGHH chính là đạo Phật, là một tông phái Phật giáo được chấn
hưng. đó là sự thật thứ nhất.
- Phật Giáo Hòa Hảo là sự tiếp nối hiện đại của Bửu Sơn Kỳ
Hương, đó là sự thật thứ hai.
- Và sự thật thứ ba là Phật Giáo Hòa Hảo là một sự thể hiện
thời đại của Phật Giáo Việt Nam trong hoàn cảnh đặc thù của
đồng bằng công Cửu Long.
Những tác giả có thẩm quyền về Phật Giáo Hòa Hảo, cũng như tất
cả tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo đều tự nhận mình là Phật Giáo và
họ khẳng định họ là Phật Giáo Hòa Hảo, chớ không không phải là
Hòa Hảo (và họ rất bất bình nếu bạn chỉ gọi họ là Hòa Hảo).
Trong tác phẩm có thẩm quyền nhất về PGHH là cuốn Phật Giáo
Hòa Hảo Trong Giòng Sinh Mệnh Dân Tộc, tác giả Nguyễn Thành
Nam đã xác định rõ ràng, minh bạch như sau: "Giáo lý Phật Giáo
Hòa Hảo chính là đạo
Phật, bắt nguồi từ tinh hoa cốt tủy của giáo thuyết mà
đức Thích Ca đã
khởi truyền từ trên 25 thế kỷ trước đây". Khẳng định nguồn gốc
lịch sử và giáo lý từ
đức Phật, Phật Giáo Hòa Hảo tự coi mình như một bộ phận
của Phật Giáo Việt Nam, tông phái mới của Phật Giáo, và bác bỏ
mọi quan niệm cho rằng Phật Giáo Hòa Hảo là "một tôn giáo mới"
hay là "đạo Phật canh tân".
Tác giả Thành Nam giải thích luận điểm này như sau: "Một
vài tác giả Tây Phương đã viết rằng Phật Giáo Hòa Hảo là một
tổ chức Phật Giáo canh tân, tương tợ như phong trào cải cách
Luther và Calvin đối với Cơ
đốc Giáo, ở thế
kỷ 16 Tây Lịch. Theo quan điểm PGHH thì sự so sánh này không
đúng... Martin Luther (1483-1546) và Jean Calvin 1509-1564) là
hai nhà thần học chủ trương cải cách, bất đồng với tòa thánh
La Mã một số vấn đề như hệ thống giáo quyền, hình thức thờ
phụng, lễ nghi. Nhưng vấn đề quan trọng họ đặt ra là thẩm xét
lại sự diễn dịch giáo lý Cơ
đốc. Riêng
Luther nêu lên 95 luận đề đòi thảo luận với tòa thánh La Mã.
PGHH không hề đặt vấn đề thẩm định lại giá trị thuyết Thích
Ca. Do đó, PGHH đối với Phật đạo không là một phong trào cải
cách như Luther hay Calvin. Những đặc điểm trong giáo lý PGHH,
nếu nói là canh tân, thì chỉ canh tân về mặt "dụng" chớ tuyệt
đối không thay đổi gì về mặt "thể". Chỉ có sự cải tiến, hay
đúng ra thích nghi hóa phương thức hành đạo với cuộc sống, mà
không hề có sự tranh cãi, xét lại hay canh tân nào về mặt giáo
thuyết phật đạo. Cho nên trên phương diện chính danh, PGHH
không phải là một "tôn giáo mới" hay một đạo Phật canh tân. Về
mặt tổ chức, PGHH mới xuất hiện từ 1939. Nhưng về mặt giáo lý,
PGHH không phải là một tín ngưỡng mới hay tín ngưỡng cải cách.
Giáo lý PGHH chính là đạo Phật".
Như vậy tác giả bác bỏ hoàn toàn và mạnh mẽ sự so sánh PGHH
với sự nổi loạn chống lại Vatican và các giáo hoàng Thiên Chúa
Giáo La Mã phóng đảng, sa đọa, ham mê quyền lực của Luther,
một sự ly khai tôn giáo đưa đến sự hình thành của Tin Lành,
một tôn giáo mới thách đố cả về mặt giáo lý lẫn cơ cấu, tổ
chức, sinh hoạt giáo hội của Thiên Chúa Giáo La Mã.
Tác giả Thành Nam còn đưa ra những đặc tính của Phật giáo để
bảo vệ quan điểm PGHH chỉ là một tông phái mới của Phật giáo
truyền thống:
"Phật đạo không giáo điều cố định, mà luôn luôn sinh động
dung hợp. Du nhập quốc gia nào, Phật giáo không hề gặp sự
kháng cự của các nền đạo giáo tư tưởng đã sẵn có trong nước
đó. Suốt tiến trình truyền bá đạo Phật đến nay, đã không thấy
xẩy ra cuộc chiến tranh nào phát sinh bởi lý do truyền giáo...
Trong các điều kiện tương đồng về văn hóa xã hội, như tại các
quốc gia á
Châu, Phật đạo thích nghi và hòa hợp với văn hóa và bản chất
dân tộc, để trở thành một nền đạo Phật mang sắc thái đặc thù
của dân tộc ấy, mà vẫn giữ được yếu lý căn bản của Phật giáo.
đạo Phật du
nhập Việt Nam mang sắc thái đạo Phật Việt Nam, tất nhiên có sự
khác biệt với đạo Phật
ấn độ,
đạo Phật Tây Tạng, đạo Phật Trung Hoa, đạo Phật Nhật Bổn... về
mặt pháp môn, sinh hoạt, nghi lễ, kiến trúc, y trang... Nhưng
kinh điển và nguyên lý vẫn là Phật đạo mà
đức Thích Ca đã
truyền bá... Tôn giáo xuất hiện với sứ mạng cải tạo xã hội và
con người. đạo
Phật truyền bá vào Việt Nam, khi tới miền đất mới khai mở, tức
miền Nam Việt Nam, tất nhiên phải có những đặc thái để thích
ứng với bối cảnh xã hội và lịch sử, cũng như tâm lý và trình
độ quần chúng nơi đây.
Căn cứ trên lập luận này, PGHH không phải là một đạo Phật
canh tân, mà chính là một tông phái Phật đạo mang một số đặc
tính thích nghi với bối cảnh xã hội và lịch sử từ đó tổ chức
này xuất hiện. Bối cảnh lịch sử là một nước Việt Nam đang bị
thực dân Pháp thống trị. Bối cảnh xã hội là đời sống bất công
trong đó lớp nông dân là giai tầng xã hội chịu thiệt thòi và
yếu kém nhất. quần chúng nông thôn trình độ chất phác, căn cơ
thiển bạc, không thể lãnh hội ý nghĩa khó hiểu của thiên kinh
vạn quyển. Bởi vậy đạo Phật truyền bá trong bối cảnh này phải
phù hợp với dân tộc tính, đáp ứng tâm lý và trình độ đại chúng
nông thôn".
Thật là rõ ràng PGHH không những là Phật giáo chân chính mà
còn là một mô hình tuyệt hảo của tinh thần thích nghi, dung
hợp của đạo Phật và của lịch sử truyền bá, phát triển Phật
giáo trên thế giới.
Thế nhưng tại sao hầu hết các tác phẩm về lịch sử Phật
giáo Việt Nam đều không đề cập đến PGHH?
Tại sạo các giáo hội Phật giáo từ thập niên 30 đến 90 ngày
nay đều không bao gồm PGHH?
Tại sao đa số tăng, ni, tín đồ Phật Giáo Việt Nam đều không
cảm nhận và công nhận PGHH là một bộ phận của PGVN và các tín
đồ PGHH là những đạo hữu thân thiết ruột thịt cùng chung một
tôn giáo và tín ngưỡng?
Nguyên do một phần là suy khi Huỳnh Phú Sổ ra đi đã không có
những đại đệ tử tiếp tục xiển dương tư tưởng Phật học của ông
và phát triển Phật giáo như một tông phái của đạo Phật. Một
phần khác là sự thiếu hiểu biết và ngộ nhận về PGHH và một
phần khác nữa là quả thật PGHH đã có những sự thích nghi, cải
tiến và phát triển hết sức cấp tiến, mạnh dạn và mới mẻ khiến
cho những người quen thuộc với đạo Phật truyền thống từ 2.000
năm nay tại Việt Nam, và nhất là Phật giáo trong giai đoạn suy
vi bị Tàu hóa nặng nền sau thời đại Lý Trần, nghĩa là suốt gần
600 năm nay, đã cảm thấy xa lạ và tưởng nó không phải là đạo
Phật.
Trong khi có thể PGHH còn là Phật Giáo Việt Nam hơn cả Phật
Giáo Việt Nam "truyền thống" (thật ra là Phật giáo lai căng
Trung Hoa) như ta thường hiểu. Ta sẽ thấy rõ vấn đề quan trọng
này, vừa liên quan trực tiếp đến PGHH, vừa ảnh hưởng sinh tử
đến Phật Giáo Việt Nam, khi nắm vững tư tưởng Phật học của
Huỳnh Phú Sổ, cũng như giáo lý, sinh hoạt, tổ chức của PGHH.
Qua các tác phẩm của Huỳnh Phú Sổ, đạo Phật được trình bày một
cách giản dị, trong sáng, thích hợp mọi tầng lớp dân chúngh và
thích nghi vào cuộc sống thực tiễn hàng ngày, bất cứ ai cũng
có thể hiểu và ứng dụng.
ông đã Việt hóa
Phật giáo, thời đó cũng như cho đến ngày nay, vẫn còn mang
nặng ảnh hưởng lai căng, lện lạc của Phật Giáo Tàu trong thời
suy đồi (thời nhà Thanh) mà hầu hết các danh tăng Việt Nam
hiện đại đều cảm thấy sự nguy hại và ra sức loại bỏ, chấn
chỉnh.
ông cũng làm
cho Phật giáo trong sáng hơn, truyền thống hơn, nguyên thủy
hơn, gần với đạo Phật thời
đức Phật còn
tại thế, bằng cách triệt để tách rời, bài trừ những mê tín dị
đoan và hình tướng phù phiếm, nhảm nhí, như những dây leo tầm
gởi, bám chặt và bán đầy cây Bồ
đề Phật Giáo.
Bứt bỏ, đốn ngã đám cây, cỏ ngoại đạo này, cây Bồ
đề có vẻ thưa
thớt, trơ trụi, không còn um tùm, sầm uất như trước, nhưng đó
thật là cây Bồ đề.
(Theo ý trong băng giảng kinh Pháp Hoa của HT Từ Thông) Phật
Giáo Hòa Hảo chính là cây Bồ
đề đã được dọn
sạch rừng cây leo chùm gởi che phủ nó. Và Phật giáo Việt Nam,
thời đó cũng như ngày nay, chính là cây Bồ
đề đang bị rừng
cây chùm gởi mê tín dị đoan, danh sắc, hình tướng che phủ.
Những người không hiểu biết tường tận, quen thuộc với nền Phật
giáo đa thần hóa, nhân gian hóa, tưởng đó là nền Phật giáo
chân chính và coi PGHH là không phải Phật giáo. Tôi khẳng định
PGHH là Phật giáo Việt Nam ngang tầm, bình đẳng, không sai
khác, cùng bản chất, màu sắc, hương vị như tất cả những cái gì
Phật giáo nhất và những cái gì Việt Nam nhất. Những tác phẩm
của Huỳnh Phú Sổ sẽ chứng minh cho luận án này.
Tuy về mặt giáo lý, Huỳnh Phú Sổ không đặt ra những luận đề
mới, phản bác, thách thức những quan điểm Phật giáo truyền
thống như Luther, Calvin đối với Thiên Chúa Giáo, nhưng về mặt
hành đạo, ông đã thực hiện những cải cách táo bạo, cấp tiến,
hợp thời đại và vượt thời đại, mang đầy tính cách mạng, khiến
cho giới tăng già và những người theo Phật giáo hình thức
không tưởng tượng nổi, không chấp nhận nổi, và đây là số đông,
nên cho đến nay, PGHH vẫn không được coi là một bộ phận của
PGVN truyền thống. Sau đây là những biện pháp cải cách hay
chấn hưng PGVN được Huỳnh Phú Sổ chủ xướng, từ đầu thập niên
40.
4 Cổ võ, khuyế
khích mọi người tu hành theo đạo Phật, áp dụng đạo Phật vào
đời sống hàng ngày.
4 Phê bình phá hủy
quan niệm tu hành sai lạc, vụ hình thức. Việt hóa và giản dị
các nghi lễ thờ phượng.
4 Bài trừ các loại
mê tín dị đoan mạo nhận Phật giáo và núp bóng trong Phật giáo.
4 Làm nổi bật vai
trò của cư sĩ như là thành phần chính yếu, quan trọng nhất
trong Phật giáo.
4 Chủ trương tu
hành tại gia, tu hành trong cuộc đời, trong đời sống xã hội,
đạo đời bất khả phân ly.
4 Không tạo dựng tự
viện, chùa chiền, mỗi nhà là một nơi thờ Phật, không thờ lạy
các hình tướng chư Phật, Bồ Tát, chỉ thờ Phật trong tâm.
4 Tôn kính Tam Bảo
Phật, Pháp, Tăng nhưng không cần tăng, ni hướng dẫn, hộ trì,
lãnh đạo tinh thần, chỉ dựa vào Phật Pháp và tự mình tu hành,
không qua trung gian của giới tăng sĩ.
4 Hướng dẫn tín đồ
học Phật, tu Nhân, thực hành thuyết tứ ân, hành động nhập thế
trong tinh thần từ bi của đức Phật.
4 Cổ võ mạnh mẽ
tinh thần ái quốc, yêu nước và thuyết tứ ân, đặc biệt là ân
đối với tổ quốc, đất nước, đồng bào.
4 Chủ xướng một
quan niệm hành động chính trị, kinh tế, xã hội Phật giáo phù
hợp với thời đại.
4
đoàn ngũ hóa
tín đồ trong một tổ chức tôn giáo, chính trị có hiệu quả và
sức mạnh cao hơn hình thái tổ chức của các giáo hội, đoàn thể
Phật giáo khác, nhưng lại không tạo ra một tầng lớp thống trị
đặc quyền đặc lợi và độc tài như các tôn giáo, chính đảng được
tổ chức theo quan niệm Tây Phương. Ðây quả thật là một cuộc
cách mạng.