Chương ba:
Cuộc đời của Huỳnh Phú Sổ.
Sự liên hệ chặt chẽ, bất khả phân ly giữa
Phật Giáo Việt Nam cận đại và Phật Giáo Hòa Hảo, cũng như giữa
đức Phật và tăng, ni, Phật tử Việt Nam với cư sĩ và đồng thời
là giáo chủ Huỳnh Phú Sổ có thể được chứng minh và cô động
trong một câu nói của chính Huỳnh Phú Sổ: "đối
với toàn thể tín đồ Phật Giáo, tôi vẫn không quên rằng tôi là
một đệ tử trung thành của
đức Phật Thích
Ca". Và đặc tính của nền Phật Giáo thời đại, nhập thế, dấn
thân do Huỳnh Phú Sổ sáng lập cũng được tóm gọn đầy đủ, xúc
tích trong một lời tuyên bố lừng danh của Huỳnh Phú Sổ:
"Tôi tin chắc rằng giáo lý giải thoát
chúng sanh (của đức
Phật Thích Ca) chẳng những được truyền bá ở Thiền Lâm, mà còn
phải được thực hiện trên trường chánh trị". ông giải thích
thêm:
"Theo như sự nhận xét của tôi về giáo lý
nhà Phật do đức
Thích Ca Mâu Ni Phật đã khai sáng, lấy chủ nghĩa từ bi bác đại
đồng đối với tất cả chúng sanh làm nồng cốt, thì tôi nhận Ngài
là một nhà cách mạng triệt để về tư tưởng, vì những câu "Nhất
thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh" và "Phật cùng đồng nhất
thể bình đẳng với chúng sanh". đã có những sự bình đẳng về thể
tánh như thế mà chúng sanh còn không bằng được Phật là do nơi
trình độ giác ngộ của họ không đồng đều, chớ không phải họ
không thể tiến hóa ngang hàng với Chư Phật được. Nếu trong cõi
nhân gian này còn có chúng sanh tiền tiến áp bức những chúng
sanh lạc hậu thì là một việc trái hẳn với giáo lý chơn chánh
ấy. Giáo lý do đức
Thích Ca Mâu Ni Phật không áp dụng được một cách thiết thực
trong đời của Ngài, là do hoàn cảnh xã hội của ấn độ xưa không
thuận tiện. Ngày nay, trình độ tiến hóa của nhơn loại đã tới
một mức khả quan, đồng thời với sự tiến bộ về khoa học, thì là
có thể thực hành giáo lý ấy để thực hiện một xã hội công bằng
và nhơn đạo. Thế nên với tâm hồn bác ái, từ bi mà tôi đã hấp
thụ, tôi sẽ điều hòa với phương pháp tổ chức xã hội mới, để
phụng sự một cách thiết thực đồng bào và nhơn loại" (Báo
Nam Kỳ, ngày 29.11.1946, Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ, t 481).
Chỉ một lời tuyên bố ứng khẩu trích dẫn ở
trên, Huỳnh Phú Sổ đã tóm lược tài tình cốt tủy, tinh hoa, chủ
đích của đạo Phật cũng như phác họa thần diệu mục tiêu, đường
hướng và phương pháp của Phật Giáo Hòa Hảo, một nền Phật Giáo
thời đại, nhập thế, dấn thân tích cực. Chỉ lời tuyên bố trên
đây cũng đủ để đưa Huỳnh Phú Sổ thành một Phật tử lớn, một
thiền sư lớn, một nhà tư tưởng Phật Học đặc sắc, độc đáo, một
nhân vật có tầm cỡ vĩ nhân của Phật Giáo Việt Nam và Phật Giáo
thế giới trong thế kỷ 20.
Sự độc đáo và vĩ đại của Huỳnh Phú Sổ được
giới trí thức quốc tế công nhận, dù bị giới trí thức Việt Nam
và trí thức Phật Giáo Việt Nam, do thiếu thông tin, thành kiến
nông cạn, sai lầm, không biết đến và đề cập đến: Bộ Bách Khoa
đại Từ điển có thẩm quyền nhất thế giới, bộ The New
Encyclopaedia Britannica đã công nhận Huỳnh Phú Sổ là một
triết gia Việt Nam "Huỳnh Phú Sổ is a Vietnamese
philosopher... "(Vulume 6, Micropaedia, 1987, trang 18).
Chữ triết gia đối với Việt Nam là một chữ
tầm thường, nhưng đối với Tây Phương là một chữ phi thường. Lý
tưởng của đạo đức và chính trị Tây Phương, như Platon mơ mộng,
không phải là sự ngự trị của những quốc vương triết gia
(Philosopher-King) hay sao? Không một Phật tử, thiền sư hay
nhân vật Phật Giáo Việt Nam nào khác thế kỷ 20 này được đánh
giá như vậy. Và quả thật Huỳnh Phú Sổ đã vượt qua tất cả...
Những nhân vật lẫy lừng của Phật Giáo Việt Nam thời đó như các
thiền sư Khánh Hòa, Khánh Anh, Thiện Chiếu, Giác Tiên, Trí độ,
Lê đình Thám... hay về sau này như Trí Quang, Thiện Minh, Trí
Thủ, Thiện Ha, Nhất Hạnh, Thanh Từ... đều không thể nào so
sánh với Huỳnh Phú Sổ vì Huỳnh Phú Sổ được coi như là hóa thân
của Bồ Tát và những hiểu biết của ông xuất phát từ Tuệ Giác và
những hành động của ông là những hạnh nguyện của tâm đại từ
bi. ông dã vượt qua mức độ phàm phu và đã đạt đến trình độ của
thánh nhân.
Học giả Phạm Công Thiện tán dương ông là
"đại bồ tát" không phải không có lý do. Nhân dân Nhật Bản ca
ngợi thiền sư Nhật Liên của họ là đại bồ tát, thì Phật tử Việt
Nam ca ngợi Huỳnh Phú Sổ là đại bồ tát cũng không có gì quá
đáng. Có ai, trong suốt mấy ngàn năm lịch sử Việt Nam, khi
chỉ mới 19 tuổi, đã thành lập một tôn giáo mới (thật ra là một
tông phái mới của Phật Giáo), đã có những viễn kiến đi trước
thời đại và được hàng triệu người tôn thờ như là Giáo Chủ? Chỉ
có Huỳnh Phú Sổ, một thanh niên quê quán ở làng Hòa Hảo trên
đồng bằng sông Cửu Long.
A/ Cuộc
đời thanh thiếu niên của Huỳnh Phú Sổ.
ông
sinh ngày 25 tháng 11 năm Kỷ Mùi, tức ngày 15/1 năm 1920, tại
làng Hòa Hảo, gần Vàm Nao, quận Tân Châu, tỉnh Châu đốc, một
tỉnh miền Tây nằm sát bên nước Cao Miên và trên sông Cửu Long
(Tiền Giang), trong một gia đình nông dân, con của ông Hương
Cả (người đứng đầu trong làng) Huỳnh Công Bộ và bà Lê Thị
Nhậm. Lúc nhỏ ông thường bịnh hoạn, đau yếu, xanh xao, chỉ đi
học trường làng, và đã đậu bằng tiểu học tại Tân Châu, nhưng
đến năm 15 tuổi phải nghỉ học vì lý do sức khỏe. ông được điều
trị bởi nhiều thầy thuốc và bằng nhiều cách nhưng bịnh tình
càng ngày càng trầm trọng và theo đuổi suốt quãng đời thiếu
niên của ông. Mãi cho đến khi ông 18, 19 tuổi, bỗng nhiên ông
hết bịnh và trở thành một thanh niên mạnh khỏe, tuấn tú, da
mặt hồng hào, tươi sáng, tướng bộ chững chạc, trang nghiêm.
Từ thuở bé, ông đã có căn tính của một
người tu hành, ông không thích đàn địch, ca hát, cười dỡn như
các bạn cùng trang lứa, lúc nào ông cũng trầm tư, mặc tỉnh,
thích ở nơi thanh vắng, yên tỉnh. ông lại rất hổ thẹn và phản
đối ngay khi nghe song thân bàn chuyện kiếm người bạn đời cho
ông.
Dù mới chỉ học xong tiểu học và chưa từng
nghiên cứu Phật Học, ông bỗng nhiên có một kiến thức Phật Học
uyên bác, và hơn thế nữa, một khả năng "xuất khẩu thành thơ"
biến những kiến thức Phật Học thành những bài thơ giảng đạo đi
sâu vào lòng quần chúng bình dân, ít học. Ngoài ra ông làm thơ
bằng chữ Nho một cách tinh thông, xuất sắc dù không học chữ
Nho. Không những thế, ông còn bỗng nhiên có tài chữa bịnh, kể
cả những bịnh nan y dù chưa từng học về y khoa. Ngày 18 tháng
năm năm Kỷ Mão, tức ngày 4/7 năm 1939, Huỳnh Phú Sổ tuyên bố
khai lập đạo Phật Giáo Hòa Hảo, khi ấy ông chỉ mới 19 tuổi.
B/ Cuộc đời
hành đạo của Huỳnh Phú Sổ.
Sau ngày khai đạo,
ông thực hiện
hai công việc chính là thuyết pháp và chửa bịnh, mà trong đó
thuyết pháp là chính, trị bịnh chỉ là phương pháp nhất thời,
trợ duyên cho việc hoằng pháp như
ông đã giải
trình trong "Sứ Mạng đức
Thầy": "Phương pháp của ta tùy trình độ cơ cảm của tín nữ
thiện nam, trên thì nói Phật Pháp cho kẻ có lòng mộ đạo quy
căn gây gốc thiện duyên cùng Thầy Tổ, dưới dùng huyền diệu của
tiên gia trị bịnh để cho kẻ ít căn lành nhờ được mạnh mà cảm
lòng từ bi cua chư vị..." Thời gian trị bịnh chỉ kéo dài
trong mấy tháng đầu khai đạo, cho tới đầu năm 1940 là chấm
dứt, còn việc thuyết pháp, độ sanh và đem tinh thần
đạo Phật vào
cuộc đời, ông đã tích cực, liên tục thực hiện không mệt mỏi
cho đến khi ra đi vào năm 1947. Chỉ 27 năm xuất hiện trên thế
gian và từ khi khai đạo, chỉnh hành hoạt trong 7 năm, thế
nhưng Huỳnh Phú Sổ đã để lại một sự nghiệp lớn lao mà không
một Tăng, Ni, Phật Tử nào trong thế kỷ 20 này có thể so sánh
được.
Như Jesus Christ cũng trị bịnh lúc khai
đạo Thiên Chúa, Huỳnh Phú Sổ đã trị bịnh và chữa lành cho
nhiều bịnh nhân mà không cần dùng dược liệu, thuốc thang cũng
như kh6ng dùng các phương thuật phù thủy thịnh hành đương
thời. Người bịnh thường được
ông cho uống
nước lạnh, hoặc nhai một bông cúc, bông trang, lá xoài, lá ổi
thường được trồng rất phổ thông ở khắp nơi, hoặc nuốt nguyên
vào bụng một thẻo giấy màu vàng bằng ngón tay chớ không đốt
thành than pha vào nước lạnh rồi uống như thói quen thời đó.
đặc điểm của
ông là mỗi khi
trị bịnh cho ai ông
đều khuyên bịnh nhân nên tin tưởng ơn trên Trời, Phật, cầu
nguyện chí thành thì sẽ được gia hộ và niệm Phật: "Thành
lòng nước lã nên hồ, Hữu tâm chí đức cam lồ Phật ban". Chỉ
với lòng thành tin rằng đây là "thuốc Phật", là "cam lồ Phật
ban", bịnh nhân uống nước lạnh, nhai bông, lá trong vườn và
lành bịnh. Từ đó quần chúng tin tưởng Huỳnh Phú Sổ là một vị
Phật hóa hiện để cứu nhân độ thế. Một số trường hợp chửa bịnh
cụ thể như sau được ghi nhận như một em bé bị bịnh ban đỏ
(sởi) được ông chửa lành trong một đêm bằng cách cho uống lá
ổi, ông Tạ Quốc Bửu bị bịnh phân nửa khuôn mặt nổi sần lên và
lở như lác, được ông chửa lành trong vài ngày bằng cách cho
uống một ly nước lạnh, bà Chung Bá Khánh đai bịnh ruột dư, bác
sĩ bịnh viện Saint Paul Sài Gòn tiêm thuốc cho gom mũ để bữa
sau mỗ, được Huỳnh Phú Sổ chửa lành tức thời bằng cách cho ăn
một trái cam và nhiều trường hợp khác
ông chữa lành
cho hàng ngàn bịnh nhân, kể cả những bịnh nhân đang ở trong
tình trạng hấp hối... mà Tây y và y học cổ truyền cũng bó tay
không chửa trị nổi.
Trị bịnh chỉ là phương tiện nhất thời thể
hiện ý nguyện từ bi cứu khổ và chỉ là một chiếc cầu gây tín
tâm hướng về Phật pháp nơi quần chúng bình dân, truyền đạo,
rao giảng Phật pháp, khuyên người đời ăn hiền ở lành, lo tu
hành Phật đạo mới là công việc chính, thường trực và không
ngừng nghỉ của Huỳnh Phú Sổ.
ông giảng dạy
giáo lý của đức Phật Thích Ca mà
ông có sứ mạng
truyền bá như một sứ mạng thiêng liêng nhất:
"Ta thừa vưng sắc
lịnh Thế Tôn
Xuống hạ giới
truyền khai đạo Pháp"
Nếu biết rõ đức Phật vẫn xử dụng các từ ngữ
thông dụng đương thời, thuộc các tôn giáo khác, như "Phạm
Thiên", "Bà La Môn" v.v... để mọi người đương thời đều hiểu,
ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy Huỳnh Phú Sổ thường xử dụng
những từ ngữ bình dân trong dân gian, không có trong từ ngữ
Phật học, như"Thượng đế", "Hạ giới", "Sắc lịnh" v.v... để dễ
dàng truyền bá Phật pháp cho giới bình dân thôn quê. Theo các
nhân chứng thời đó kể lại thì ông đã tận tâm tận lực bình đẳng
thuyết giảng Phật Pháp cho mọi người đến nghe đạo hay trị
bịnh, không phân biệt sang, hèn, giàu, nghèo, thân, sơ. Nhiều
khi ông đã liên tục thuyết pháp cả ngày lẫn đêm vì thính giả
thập phương đến nghe đông đảo.
Theo ông Nguyễn Văn Hầu, trong cuốn Thất
Sơn Mầu Nhiệm thì: "Với một giọng nói thanh tao, êm dịu,
khi bỗng lúc trầm, lưu loát mà rõ ràng, khi cao siêu, khi giản
dị, Ngài giảng giải cho quần chúng nghe giáo lý nhà Phật và
phương pháp tu hành. Ngài thuyết pháp không ngưng, không
vấp... Một nhà báo ở Sài Thành (ông Hiền Sĩ) nói về đức Huỳnh
Giáo Chủ trong hơn 30 bài báo, có phê bình tài hùng biện và
khoa ngôn ngữ của Ngài bằng câu "thao thao bất tuyệt" và cho
rằng Ngài "chiếm giải quán quân về phương diện diễn thuyết".
Nhà lãnh tụ nhóm "Tranh đấu" là Tạ Thu Thâu chưa chắc có thể
so sánh với đức Thầy về môn diễn thuyết và nói trước công
chúng được. Lại nữa, lời văn của đức Thầy còn có mãnh lực hấp
dẫn quần chúng một cách phi thường nên thính giả nhiều khi mủi
lòng rơi lệ, liền phát bồ đề tâm, quy y đầu Phật. Nhiều nho sĩ
văn gia, nhiều trí thức tân học đỗ cao (cử nhơn, tấn sĩ) đều
bái phục đức Thầy vì tài ba, vì đức hạnh. Thật Ngài là một bực
thượng trí anh tài, một bực sinh nhi tri vậy".
Thính giả đến nghe giảng ngày càng đông và
ngôi nhà của thân sinh ông trở thành một đạo tràng thuyết
pháp, một ngôi chùa lúc nào cũng đông đảo thiện nam tín nữ từ
khắp nơi về và bị nhà chức trách dòm ngó. Nên ông đã có lần
nhờ thân sinh lên quận xin phép đổi cái nhà của ông thành một
ngôi chùa, lấy tên là Kim Sơn Tự.
Tuy chỉ xuất hiện trên đời 27 năm, ông đã
để lại một khối lượng kinh sách đáng kể, tổng cộng khoảng
150.000 chữ, bằng văn xuôi và văn vần, phần lớn đều là ứng
khẩu và đại đa số là văn vần, nghĩa là thơ, dưới các hình thức
thơ lục bát, song thất lục bát, thất ngôn bát cù, trường thiên
thất ngôn, ngũ ngôn. Như các vị Giáo chủ thời xưa, những bài
giảng của ông phần lớn đều ứng khẩu thuyết giảng cho đệ tử,
tín đồ nghe và những người này ghi chép lại. Một phần khác thì
do ông đích thân viết và theo các nhân chứng thuật lại, thì
ông viết rất tự nhiên, không suy nghĩ, không gạch xóa sửa chửa
và viết một mạch không ngừng cho đến khi hoàn tất. đặc điểm
của thơ văn Huỳnh Phú sổ là ngôn từ rất giản dị, rõ ràng, dễ
nhớ, ai đọc cũng hiểu nhưng rất hàm súc và hoàn toàn phù hợp
với kinh sách Phật Giáo. Nhờ đó ngay cả những người dân quê
không biết chữ vẫn có thể hiểu và học thuộc lòng hàng trăm câu
thơ khuyến tu, truyền đạo của ông. Không những đặc biệt trong
việc truyền giảng Phật Pháp, là giảng bằng thơ và thơ hết sức
bình dân, mà việc phổ biến các tác phẩm Phật Học này cũng rất
đặc biệt: là một số tín đồ có giọng tốt học thuộc lòng và đi
diễn ngâm khắp đồng bằng Nam Bộ và những tín đồ khác, có hoa
tay, thì lại chép các bài thơ sấm giảng này thành 100 bản, 200
bản và luân chuyền khắp nơi, với vài trăm người như thề hàng
trăm ngàn ấn bản có thể phổ biến dễ dàng và sâu rộng (sau này
nhờ một tín đồ có quốc tịch Pháp là bà Trần Văn Tâm đứng xin
giấy phép xuất bản nên ấn bản đầu tiên của Sấm Giảng Phật Giáo
Hòa Hỏa mới được in). Cho đến năm 1965, khoảng 800.000 ấn bản
các tác phẩm của Huỳnh Phú Sổ đã được in và đến năm 1975 thì
trên một triệu quyển đã được in ra. Không một tác giả Phật
Giáo nào, và có lẽ ít có một tác giả Việt Nam nào, cho đến
nay, có được một số lượng tác phẩm được phát hành lớn lao như
thế.
Qua phương pháp trị bịnh thần diệu và
truyền giảng Phật Pháp một cách giản dị, dễ hiểu, dễ nhớ, chỉ
trong một thời gian ngắn ngay trong năm 1939, "Câu Tư Hòa Hảo"
tức thanh niên 20 tuổi Huỳnh Phú Sổ, đã được dân chúng tôn
sùng, quy ngưỡng như một vị giáo chủ và ngôi nhà của ông tại
làng Hòa Hảo trở thành thánh địa.
Nông dân đã đáp ứng một cách nồng nhiệt
bằng cách quy y nhập đạo, ngày càng đông đảo, giới điền chủ,
trí thức nghi ngờ, dè dặt và nhiều người đã thử thách đến viết
những bài thơ chữ Hán, là thứ chữ Huỳnh Phú Sổ chưa bao giờ
học, để thử tài ông.
ông đã họa lại
và khiến các nhà nho này khâm phục. Như Thầy Bảy Tốt ở Long
Xuyên đến so tài làm thơ bằng chữ Hán, có hôm làm không kịp
với Huỳnh Phú Sổ, ông phải rút trọn một câu trong sách thuốc
Thọ Thế đưa vào bài thơ, bị Huỳnh Phú Sổ vừa cười vừa chọc:
"ông hết chữ rồi nên mới rút tới câu đó". Một hôm khác nhân
đọc câu "Trần Di ngủ say câu thành tựu" trong bài Diệu Pháp
Quang Minh của Huỳnh Phú Sổ, ông bèn hỏi: "Bạch Ngài, tôi e
chữ thành tựu chưa có ai dùng. Phải chăng Ngài đã lẫn lộn?
"Huỳnh Phú Sổ trả lời về xem lại bộ Tứ Thơ thì sẽ thấy. ông về
tra lại nhưng không thấy, đến hỏi, được Huỳnh Phú Sổ cho biết
là chữ thành tựu được lấy ra từ hàng chữ cháu con "nhứt nhứt
thành tựu". Một nhà nho khác là ông Huỳnh Hiệp Hòa ở Long
Xuyên đến đưa một bài thơ bằng chữ Nho, Huỳnh PHú Sổ đã viết
liền không suy nghĩ một bài thơ họa lại cũng bằng chữ Nho, bài
"Hồi đầu điểm đạo chuyển phong cương". Hay ông Nguyễn Kỳ đức
cũng ở Long Xuyên đến trình một bài thơ chữ Nho, hỏi Huỳnh Phú
Sổ về vận nước ngã nghiêng, thì ông đã ngay lập tức họa lại
một bài thơ chữ Nho để đối đáp lại, bài "Thiên ký Lạc Hồng đắc
ngũ niên". Hay ông Ba Thận ở Tân Châu làm hai bài để thử tài
và chất vấn Huỳnh Phú Sổ nhưng đã được Huỳnh Phú Sổ trả lời
ngay những điều ông muốn hỏi dù ông chưa kịp xuất trình hai
bài thơ đó. Không những biết chữ Hán rất uyên thâm, ông đọc
kinh bằng 18 thứ tiếng khác nhau.
Các nhà Tân Học thì lại thử thách Huỳnh Phú
Sổ bằng cách đặt những câu hỏi hóc búa liên quan đến kiến thức
mới hay đến tình hình. Như Bác sĩ Trần Lũy ở Rạch Giá hỏi:
"ông có thể cho tôi biết quan niệm của ông về thuyết
Darwinisme? ". Huỳnh Phú Sổ ung dung trả lời: "Phải ông muốn
hỏi tôi về vấn đề ông Darwin cho rằng thỉ tổ của loài người là
khỉ chăng?... Nếu quả thật khỉ là thỉ tổ của loài người thì từ
mấy chục ngàn năm nay nó đã thành người hết rồi, trong rừng sẽ
không còn con khỉ nào. Còn như nói người là biến thân của khỉ
cũng như con ếch là biến thân của con nòng nọc, thì khi sanh
ra loài người phải có đuôi như khỉ, đến lớn lên cái đuôi đó
rụng như đuôi nòng nọc mới phải chớ". Chỉ học tới tiểu học
(lớp năm) mà Huỳnh Phú Sổ bác thuyết tiến hóa của Darwin như
thế thì cũng khác chính xác, hợp lý.
Chớ nếu hỏi "Darwinisme là gì với "các ông
đạo" ở miền Tây thì các ổng chắc chắn sẽ... á khẩu. ông bác
vật (thời đó kỹ sư ở miền Tây được gọi là bác vật) Nguyễn Văn
Thời, gốc Rạch Giá hỏi: "Giáo chủ nói chuyện độc lập, vậy khi
người Phái đi khỏi xứ này rồi, ai sẽ giúp ta thiếp lập hệ
thống đường xá cầu cống để phát triển kinh tế? Làm sao ta có
đủ kỹ thuật, nhân tài, vật lực để làm những việc hệ trọng
đó?". Huỳnh Phú Sổ trả lời: "Sau khi Thực Dân Pháp ra đi sẽ có
các nước văn minh khác trên thế giới giúp Việt Nam giải quyết
vấn đề đó". Thật là gọn, nhưng đây cũng là lời tiên tri.
Một trí thức tân học khác yêu cầu giải
thích một cách khoa học về hiện tượng ông đọc được tư tưởng
của người khác. Huỳnh Phú Sổ trả lời như sau: "Tôi là một cái
máy thâu thanh nhạy và mạnh hơn máy thâu thanh của người
thường. Những ý nghĩ trong trí ông thể hiện thành những làn
sóng, người thường như cái máy thâu thanh yếu không thể bắt
được những làn sóng đó, còn tôi nhờ có máy thâu thanh mạnh hơn
nên bắt được làn sóng của ông. Có người kêu là lục thông, giác
quan thứ sáu". Giải thích như thế là rất khoa học (tuy nhiên
"lục thông" không phải là giác quan thứ sáu, có lẽ chỉ là một
cáh nói bình dân cho mọi người hiểu).
Có người lại hỏi một vấn đế khá tế nhị:
"Tại sạo đi đâu ông cũng ở nhà những người giàu có, chớ không
thấy ở nhà kẻ nghèo hèn? ". Huỳnh Phú Sổ ung dung trả lời:
"Nhà giàu như cáo gò, nhà nghèo như cái hố. Tôi ở nhà giàu
cũng là để ban cái gòn xuống cho cái hố nhờ cậy".
Thật là tuyệt và đúng tinh thần xã hội Phật
Giáo, khác hẳn với tinh thần của chủ nghĩa xã hội Mác Xít,
nghĩa là không cưỡng bức, sắt máu, chỉ đánh thức từ tâm của họ
để họ phát tâm từ bi cứu khổ, giúp nghèo. Quan niệm Phật giáo
về giàu, nghèo là do ở nguồn gốc thiện nghiệp hay ác nghiệp
trong quá khứ. Người giàu có là nhờ làm việc việc phước đức từ
đời trước và ngày nay nếu họ giàu có hay có dư dã thì phải nên
cúng dường, trao tặng cho người nghèo khó, giống những cành
cây sây trái quá nặng, nếu không hái bớt thì sẽ dễ dàng bị
gãy.
Còn "ban cái gò xuống cho cái hố nhờ cậy"
cũng được ông
cụ thể hóa trong tuyên ngôn và chương trình của Việt Nam Dân
Chủ Xã Hội đảng, tức là tiết chế tư bản và bảo vệ quyền lợi
của tầng lớp lao động.
Cách ứng xử của
ông rất linh
động, uyển chuyển, chớ không hẳn là chỉ gần gủi giới giàu có:
khi ông quận trưởng Tân Châu Nguyễn Văn Lễ đem xe hơi đến rước
thì Huỳnh Phú Sổ đã từ chối và đi thuyền của một tín đồ dân
thường, ông
nói: "Tôi đâu có thể thiên vị kẻ giàu mà phụ bạc kẻ nghèo".
Nhân tiện ông
giảng dạo cho ông
Chủ Quận: "Song thân ông có tu nhơn tích đức nên nay ông mới
được chức trọng quyền cao. Vậy ông nên lập công bồi đức nếu
ông muốn hưởng phước được lâu dài". Lời khuyên này hoàn toàn
phù hợp với quan niệm phước đức, nhân quả của Phật giáo.
C/
Những năm tháng bị quản thúc, lưu đày.
Số tín đồ và ảnh hưởng của Huỳnh Phú Sổ
càng ngày càng gia tăng trong chưa đầy một năm kể từ ngày khai
đạo và trở thành một phong trào tín ngưỡng mạnh mẽ, rộng lớn
làm cho Thực Dân Pháp phải lo ngại.
Ngày 18/8/1940 nhân viên công lực tỉnh Châu
đốc đến làng Hòa Hảo bắt buộc Huỳnh Phú Sổ phải lập tức theo
họ về tòa hành chánh tỉnh Châu đốc, ông không kịp thay áo quần
và khi ra đi chỉ kịp cầm theo tấm "giấy thuế thân" (Thời Pháp
Thuộc mỗi người dân phải đóng một thứ thuế trên chính con
người của mình để trở thành một người dân nô lệ "hợp pháp",
gọi là "thuế thân", không đóng "thuế thân"sẽ bị đi ở tù). Tại
đây sau vài giờ làm thủ tục, ông giao chuyển qua cho Cò mật
thám (trưởng công an) Bazin của tỉnh Sa đéc (sau trở thành
giám đốc sở Mật Thám Nam Kỳ). Tên này tra hỏi có phải ông là
tác giả mấy quyển Sấm Giảng không? ông nhận là do chính ông
viết. Bazin không tin một thanh niên vừa đúng 20 tuổi, học
hành dang dỡ lại có thể sáng tác nổi nên hỏi: "Nếu thật ông
viết thì ông thử viết cho tôi coi". Huỳnh Phú Sổ liền sáng tác
và viết ngay bài thơ Sa đéc sau đây:
"Muốn lập đạo có
câu thành bại,
Sự truân chuyên cú
Khách Thiền Môn.
Khắp sáu châu nức
tiếng người đồn,
Ta Chịu Khổ, Khổ
Cho Bá Tánh.
Tiếng Gọi
đời Sông Mê Hãy
Lánh,
Chạm lợi quyền
giàu có cạnh tranh.
Bước chông gia
đường đủ sỏi sành,
đành tách gót
lìa quê hương dã.
Ta cũng chẳng lấy
chi buồn bã,
Bởi sự thường của
Bực Siêu Nhơn.
Dẫn gian lao dạ
sắt chẳng sờn,
Miễn Sanh Chúng
Thông đường
Giải Thoát".
Bài thơ này diễn tả tâm trạng, nguyện lực
và nhân cách lớn của một đại Phật Tử, một bồ tát và phảng phất
hình ảnh, không khí của các Thánh Tử đạo Phật Giáo, hay của
Jesus Christ khi đang bị đóng đinh trên thập tự giá: "Ta chịu
khổ, khổ cho bá tánh", dù khi đó
ông chỉ mới 20
tuổi.
Nghe xong bài thơ này Bazin phải nhận Huỳnh
Phú Sổ là một người xuất chúng, có tâm hồn tôn giáo nhiệt
thành và tạm quản thúc ông ở nhà ông Phán đặng. Rồi chỉ hai
tháng sau, ngày 23/5/1940, chuyển ông sang ở làng Nhơn Nghĩa,
tỉnh Cần Thơ, quản thúc ở nhà ông Hương Võ Mậu Thạnh. Tại cả
hai nơi này, quần chúng tìm đến đông đảo để nghe thuyết pháp
và xin quy y nhập đạo Phật Giáo Hòa Hảo. Cho nên chỉ hai tháng
sau, ngày 28/7/1940, nhà cầm quyền Pháp đưa Huỳnh Phú Sổ vào
bịnh viện Cần Thơ và sau đó chuyển lên nhà thương điên Chợ
Quán Sài Gòn.
Cùng thời bên xứ Nga, Stalin cũng đã gán
cho những người đối lập với ông ta là những người mắc bịnh tâm
thần và đều quản thúc họ ở các nhà thương điên. Tại đây, chính
người điều trị, quản thúc là y sĩ Trần Văn Tâm và cả người gác
dan cũng quy y đạo Phật Giáo Hòa Hảo và tôn thờ Huỳnh Phú Sổ
như một vị giáo chủ. đặc biệt y sĩ Trần Văn Tâm là một trí
thức tân học có nghiên cứu Phật Giáo, ông đã bị Huỳnh Phú sổ
chinh phục và quy y vì khâm phục kiến thức Phật Học uyên bác,
sâu sắc và đạo đức của Huỳnh Phú Sổ.
Không những có tài trị bịnh và thuyết pháp,
Huỳnh Phú Sổ còn có khả năng biết những việc xẩy ra trong quá
khứ, biết được tư tưởng của người khác, dù cách xa và tiên tri
đúng những việc sẽ xẩy ra trong tương lai.
Theo Trần Kim Thiện, con của y sĩ Trần Văn
Tâm kể lại thì "Bà kế mẫu của mẹ tôi, sau này trở thành kễ mẫu
của ông Nguyễn Ngọc Thơ (Phó Tổng Thống đệ nhất Cộng Hòa) được
đức Thầy trị
cho hết bịnh đau nhức xương trên lưng mà bà đi bao nhiêu bác
sĩ trị không dứt, cho nên bà đến xin
đức Thầy cho bà
"vài chai thuốc Phật" (tức là nước lã mà
đức Thầy đã cho
bà uống mà dứt bịnh).
đức Thầy có trả lời rằng: "Thuốc Phật đâu mà bà xin
nhiều đến vài chai? Sao bà không nhớ có lần người ta xin bà
một chai nước mắm mà bà còn tiếc không cho, bây giờ lại xin
tới vài chai thuốc Phật?". Bà kế mẫu nghe vậy kinh sợ vô cùng
"vì chuyện này đã thật sự có xẩy ra khi bà còn ở với ngưới
chồng trước là ông Huyện Chơn ở Long Xuyên". Chuyện thứ nhì là
chuyện của chính tôi... ba má tôi xuống chúc Tết
đức Thầy vì là
đầu xuân. đức
Thầy có bảo má tôi nên trở về nhà vì có tôi về nhà ăn tết. Má
tôi nghe lời đức
Thầy trở về nhà thì quả nhiên có tôi ở nhà. Tôi đi lính đóng ở
Bắc Việt, xin phép về Sài Gòn ăn tết, nhưng có ý không cho gia
đình hay, muốn dành cho ba mẹ tôi một điều bất ngời thích
thú... Tại sao đức
Thầy lại biết được dự định trong ý riêng của tôi trong khi tôi
ở tuốt xa ngoài Bắc Việt?". (Thành Nam, Phật Giáo Hòa Hảo
Trong Dòng Lịch Sử Dân Tộc, t 167-203)
Hay theo lời kể của ông Trần Văn Soái, tự
Năm Lửa, một thị giả của Huỳnh Giáo Chủ, thì có một lần nhân
rũ mền gối của đức Thầy, ông thấy một con rệp, ông liền giết
chết, không ai hay biết. Nhưng đức Thầy vẫn biết và quở rằng:
"Nó cắn tôi chứ đâu có cắn ông mà ông nở giết nó". Hôm sau
cũng nhân rũ mền gối, ông Soái thấy một con rệp khác, ông liền
lén bắt đem ra phơi nắng. thế nhưng đức Thầy cũng biết là la
ông. Sau đó ít hôm, ông cũng thấy một con rệp khác trên giường
của Huỳnh Phú Sổ, lần nầy ông lén bỏ vào miệng nuốt luôn xuống
bụng, không ai hay biết cả. Thế những lần này đức Thầy cũng
biết và cười bảo ông: "Hết giết bằng tay, bằng bỏ phơi nắng,
bây giờ ông lại giết người ta bằng cách nuốt vào bụng". (Băng
giảng Những Mẫu Chuyện Bên Thầy).
Ngoài ra, trong dịp đi khuyến nông, ông làm
bài thơ có câu "Thần chết đã tràn vào Trung, Bắc" vào khảng
tháng 5 năm 1945 rồi nói với ông Lương Trọng Tường, thủa ấy là
chánh thư ký Ban Trị Sự Trung Ương PGHH: "Bây giờ tôi viết
Thần chết đã tràn vào Trung, Bắc mà ngày sau người ta sẽ đọc
Thằng chệt đã tràn vào Trung, Bắc cho mà coi". Quả nhiên vài
tháng sau, Nhật đầu hàng, theo hiệp ước Yalta của các cường
quốc đồng Minh thắng trận, Trung Hoa Dân Quốc cử tướng Lư Hán
kéo quân Tàu (người bình dân trong Nam Bộ gọi là Chệt) vào
chiếm đóng miền Trung và miền Bắc, từ vĩ tuyến 16 trở lên, và
quân Anh chiếm đóng từ vĩ tuyết 16 trở xuống. Vào tháng 5/45,
ngay cả những lãnh tụ thế giới như thủ tướng Anh Churchill,
tổng thống HOa Kỳ Roosevelt, tổng bí thư Cộng đảng Liên Sô
Stalin, ký vào hiệp ước Yalta, là hiệp ước phân chia thế giới
tập trung vào cục diện Ấu Châu, thì họ có lẽ cũng không để ý
có điều khoản liên quan đến Việt Nam.
Bằng tuệ giác nào mà Huỳnh Phú Sổ đã tiên
tri quân Tàu sẽ vào Trung, Bắc?
Huỳnh Phú Sổ bị quản thúc ở nhà thương Chợ
Quán cho đến ngày 5/6/1941. Sau đó ông bị giải qua bót Catinat
thẩm vấn 8 ngày và rồi Thực Dân Pháp lưu đày ông đến tỉnh Bạc
Liêu, một tỉnh miền Tây xa nhất Sài Gòn, giáp vịnh Xiêm La. ở
đây ông bị quản thúc ở nhà ông Võ Văn Giỏi và chịu sự quy
định: không được trị bịnh, không được thuyết pháp và ngày thứ
hai mỗi tuần phải đến trình diện tại ty công an.
Tuy nhiên việc di chuyển
ông đi ở nhiều
tỉnh khác nhau đã là một cơ hội quý giá cho
ông truyền đạo,
thu nhận thêm nhiều tín đồ và đưa Phật Giáo Hòa Hảo lan rộng
khắp đồng bằng sông Cửu Long. Trong giai đoạn bị cưỡng bức dời
cư, ông đã viết
những vần thơ tự tại: "Càng đi càng biết nhiều nơi. Càng
đem chân lý tuyệt vời phổ thông... Ta cũng thương, thương trò
liệu điệu, nhưng cũng mừng được dịp phổ thông...".
ở bất cứ nơi
nào bị lưu đày, Huỳnh Phú Sổ đều mở mang phát triển Phật Giáo
Hòa Hảo và niềm tin tôn giáo mãnh liệt đã thắng những sự kềm
kẹp, hạn chế của nhà cầm quyền. Nên cuối cùng Thực Dân Pháp dự
định lưu đày ông
qua Ai Lao. Ấm mưu này bị khám phá và một số tín đồ PGHH cùng
với sự giúp đỡ của hiến binh Nhựt đã giải thoát ông và đưa
ông về Sài Gòn.
Phòng Tình Báo Quân Sự Pháp viết như sau:
"Bạc Liêu đã trở thành nơi hành hương
của tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo. Họ tới thăm Thầy, khi về nhận
chỉ thị miệng và sấm giảng, giấu diếm đem phổ biến khắp nơi.
đó là những tài liệu, những thông điệp chống Pháp rõ rệt. Cho
nên đầu năm 1942, nhà cầm quyền địa phương đề nghị đưa ông
Huỳnh Phú Sổ trở về sinh quán. Nhưng Phủ Toàn Quyền quyết định
đưa ông đi đày
ở Ai Lao. Chỉ vài ngày trước khi thi hành quyết định này, một
số tín đồ PGHH vớisự tiếp tay của hiến binh Nhật đã tổ chức
giải cứu ông
đưa về Sài Gòn. Những nhân vật có dính líu trong vụ này gồm có
Lương Trọng Tường, Bùi Văn Trung, Cả Vi, Hội
đồng
điều, trung sĩ
hiến binh Nhựt Kimura và tài xế Trần Văn Sơn".
Chi tiết đầy đủ, chính xác hơn được ông Lâm
Ngọc Thạch, con ông Lâm Thơ Cưu, người chủ mưu vụ này cho biết
như sau: "Việc Pháp khủng bố Cao
đài, bắt
đức Hộ Pháp
Phạm Công Tắc đày đi Madagascar làm cho tín đồ PGHH lo ngại.
Khoảng tháng 9 năm 1942
đức Thầy nói
riêng cho Biện Hùm biết Pháp có ý định đưa Ngài đi đày xa, ở
ngoại quốc, giống như đã đày Hộ Pháp Cao
đài đi
Madagascar. Biện Hùm về gặp cha tôi (Lâm Thơ Cưu) bàn tính kế
hoạch đưa gấp đức
Thầy đi nơi khác... Cha tôi liền đến sở hiến binh Nhựt tại Sài
gòn nhờ họ giúp... nhưng Kempeitai không cho mượn xe của sở
hiến binh, họ tìm dùm chiếc xe hơi dân sự, giao viên thượng sĩ
hiến binh Kishi cùng đi với cha tôi và tài xế Ba Xạ"...
Như thế thì rõ ràng việc giải cứu này lo do
sáng kiến của tìn đồ PGHH và họ chủ động thực hiện, Nhật chỉ
giúp một phần nhỏ. Thái độ của Huỳnh Phú Sổ đối với Nhật rất
minh bạch, đó là thái độ thân hữu mà vẫn giữ tư thế độc lập và
đường lói, chủ trương của mình, vì bằng tuệ giác, Huỳnh Phú Sổ
đã tiên tri chính xác rằng: "Nhựt Bổn ăn không hết nửa con
gà". Năm Ât Dậu, 1945 tức năm gà và Nhật đã đầu hàng đồng Minh
ngày 6/8/1945 (Thành Nam, sđd, t 167-223).
D/ Thời
gian sống tại Sài Gòn và đi khuyến nông tại miền Tây.
Từ tháng 10 năm 1942, sau khi thoát khỏi sự
kềm tỏa của Pháp và tạm trú an bình ở Sài Gòn, với sự bảo vệ
của Nhật, Huỳnh Phú Sổ và PGHH bắt đầu một giai đoạn hoạt động
mới: phát triển, củng cố hàng ngũ tín đồ xây dựng hạ tầng cơ
sở và cơ cấu điều hành, huấn luyện cán bộ, liên kết với giới
trí thức yêu nước, chuẩn bị đấu tranh cứu quốc, một tổ chức
quân sự, phong trào Bảo An Phật Giáo Hòa Hảo, cũng được thành
lập.
Chỉ trong ba năm ngắn ngủi, từ 1939 đến
1942, Huỳnh Phú Sổ đã có hàng trăm ngàn tín đồ và chỉ thêm ba
năm sau đó, đến năm 1945, khi đất nước vỡ bùng trong những
biến động chính trị lớn lao, thì Phật Giáo Hòa Hảo đã trở
thành một tôn giáo có trên, dưới một triệu tín đồ, được đoàn
ngũ hóa, có tổ chức, có kỹ luật, có lãnh đạo.
Trên thật tế, PGHH, chỉ với 6 năm lịch sử,
và tuy chỉ giới hạn ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đã
mạnh hơn, và có những đóng góp lớn lao hơn cả toàn khối Phật
Giáo cổ truyền có gần 2.000 năm lịch sử trong giai đoạn sôi
động 1945-1947.
Năm 1945 nạn đói khủng khiếp đã xẩy ra ở
miền Bắc đưa đếm một thảm cảnh bi đát trong lịch sử cận đại
VN: gần hai
triệu người Việt bị chết đói.
Huỳnh Phú Sổ sáng tác bài Khuyến Nông và đi
du thuyết tại 107 địa điểm ở các tỉnh miền Tây trong suốt hai
tháng, từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1945, để kêu gọi nông dân
tăng gia sản xuất hầu có dư thêm lúa gạo cứu trợ đồng bào miền
Bắc.
Có nơi
ông nói chuyện
trước 10.000 người, ít lắm cũng một, hai ngàn người và có ngày
ông diễn thuyết
trước cả 5,6 chỗ khác nhau.
đây
là dịp ông trở
lại miền Tây và gặp lại tín đồ sau hai năm xa cách nên các tín
đồ PGHH đã vô cùng vui mừng, tiếp dón vô cùng trang nghiêm,
long trọng, họ dựng các khải hoàn môn, bày các hương án dọc
hai bên đường để bày tỏ lòng tôn kính, các tín đồ nam phụ lãi
ấu đứng chờ cả buổi, cả ngày hai bên đường để mong được gặp vị
Giáo Chủ đáng yêu đáng kính của họ.
Có người ghi nhận là
ông được đón
tiếp "còn hơn cuộc tiếp rước quan Toàn Quyền đi kinh lý". Dịp
này số tín đồ quy y, gia nhập PGHH gia tăng mạnh mẽ và một
không khí yêu nước, yêu đồng bào, tích cực sản xuất và chuẩn
bị hành động cứu quốc lan tràn sôi nổi khắp miền Tây. Tinh
thần này đã tỏa ra sôi sục từ bài Khuyến Nông của
ông:
"Kẻ phu tá cũng là
trọng trách,
Cứu giống nòi quét
sạch non sông.
Một phen vác cuốc
ra đồng,
Thề rằng ruộng
phải được trồng lúa khoai.
Mưa nắng ấy đâu
nài thân xác,
Chí hy sinh dầu
thác cũng cam."
Lời hịch khuyến nông này cũng là lời hịch
kêu gọi tín đồ sẵn sàng đứng lên như ông Lê Minh điều tự
thuật: "Tôi là người làm ruộng ở Sa đéc và có tham gia phong
trào Bản An PGHH. Khi nghe được bài Khuyến Nông của đức Thầy,
chúng tôi thảo luận với nhau và đồng ý rằng thời cuộc đã đến
lúc xoay chuyển, cho nên đức Thầy mượn cơ hội khuyến nông để
kêu gọi tín đồ hãy sẵn sàng để hy sinh cho đất nước". (TN,
sđd, t 211).
Chẳng bao lâu sau, như dự kiến của Huỳnh
Phú Sổ, Nhật Bản bị liên tiếp thảm bại, bị Hoa Kỳ ném hai quả
bom nguyên tử xuống hai phố Hiroshima và Nagasaki và đầu hàng
vô điều kiện vào ngày 15/8/1945. Một vận hội mới mở ra cho dân
tộc Việt Nam. Huỳnh Phú Sổ, trong giai đoạn này, đã sáng tác
một bài thơ tuyệt với...
"Tuốt gươm vàng
lên ngựa xông pha,
đền xong nợ
nước thù nhà.
Thiền môn trở gót
Phật đà Nam Mô".
ông Việt Nam còn hơn cả những người Việt
Nam nất, ông là Phật Giáo hơn cả những người Phật Giáo nhất.
ông là một đại Phật Tử, đại thiền sư, đại bồ tát.
Qua ba câu thơ này, và qua cuộc đời ông, đã
gói trọn, một cách viên mã, đã kết tinh, một cách rực rỡ, đã
hiển sinh, một cách chói lọi, truyền thống yêu nước, truyền
thống hành động của Dân Tộc Việt Nam và của Phật Giáo Việt
Nam.
Trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng này, dù
chỉ mới 25 tuổi, Huỳnh Phú Sổ đã thành lập hay tham gia, và
đóng góp ở vai trò lãnh đạo các tổ chức cách mạng yêu nước sau
đây:
Năm 1945:
- Việt Nam Phật Giáo Liên Hiệp Hội;
- Việt Nam Vận
động
độc Lập Hội;
- Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất;
- đệ
Tứ Sư đoàn Dân
Quân;
Năm 1946:
- Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp (Chủ Tịch);
- Việt Nam Dân Chủ Xã Hội
đảng (Lãnh tụ
và linh hồn);
năm
1947:
- Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Nam Bộ (Ủy
Viên đặc Biệt);
- Mặt Trận Toàn Quốc.
Cuốn Thất Sơn Mầu Nhiệm đã trình bày khá
chi tiết cuộc hành trình khuyến nông tại miền Tây của Huỳnh
Phú Sổ:
"khởi hành tại Sài Gòn nơi căn nhà số 38
đường Miche ngày 10-5-1945,
đức Thầy và ông
Lương Trọng Tường cùng vài đệ tử thân tín xuống Cần Thơ rồi
qua Cái Răng, Sóc Trăng, Bãi Xào. Sau khi khuyến nông thuyết
pháp, đức Thầy
đến Bác Liêu khuyến nông và thuyết pháp tại đình Tân Hưng,
thính giả đông nghẹt... Tỉnh trưởng, thẩm phán và nhiều nhà
trí thức trong tỉnh lỵ có đến dự thính. Sau hai giờ chăm chú
xem, nghe, mọi người đều thán phục tài hùng biện của
đức Thầy. Bữa
sau, đức Thầy
đi khuyến nông tại Vĩnh Châu, chiều lại, Ngài thuyết pháp ở
Sóc đồn. Ngày
kế đến, đức
Thầy đi ghe vô chùa Linh Quang Tự. Chính
đức Thầy đã đặt
tên cho ngôi chùa này và có làm hai câu liễn như vầy:
a.
Phật pháp khai thông, khổ hải trùng trùng tâm bất khiếp,
trần duyên bế tắt,
liên đài điệp điệp đạo vô cùng.
b.
Phật pháp hoằng khia, chuẩn tế thương sinh đăng giác ngạn,
trần tâm tịnh tận,
siêu thăng cực lạc tọa liên đài.
Khi
đức Thầy vừa
đến thì trong chùa nổi trống sấm, gióng đại hồng chung, và gõ
mõ tiếp nghinh trọng thể. Thấy vậy,
đức Thầy hỏi
ông giáo thọ có biết chuyện tích về chuông mõ chăng? Thấy ông
lúng túng, đức
Thầy liền tiếp: "Thôi, để lát nữa Thầy sẽ nói cho mà nghe".
Thế rồi trong khi thuyết pháp,
đức Thầy có
nhắc lại chuyện tích cái chuông, cái chày kinh (có hình con cá
kình) và cái mõ có chạm hình con cá ngạc... Trước khi rời khỏi
Bạc Liêu, đức
Thầy có đi khuyến nông ở Hòa Bình, Giá Rai và Cà Mâu...
Ngày 12 tháng 5 năm Ât Dậu,
đức Thầy từ giã
Bạc Liêu đi qua Vị Thanh, Giồng Riềng... kinh xáng Cái Sắn...
Tân Hội... rồi Ngài trở về Rạch Giá ở đó ngày 19 và 20. Bữa
sau có na nô đưa đức
Thầy đi Sốc Xoài và Ba Hòn... Cũng tại Rạch Giá,
đức Thầy đã trả
lời trôi chảy nhiều câu hỏi về tôn giáo, chánh trị và khoa học
huyền bí do các bậc trí thức đưa ra, làm cho họ tấm tắc ngợi
khen...
Từ giã Ba Hòn (Rạch Giá),
đức Thầy đi
thẳng Hà Tiên, Châu đốc...
đức Thầy đến
thuyết pháp khuyến nông tại sân vận động. Buổi diễn thuyết hôm
ấy có nhiều nhà trí thức đến dự thính, như: tỉnh trưởng Hồ Tần
Khoa, đốc Công
Trần Văn Dương, Y sĩ Phạm Văn Tiếc... Trưa lại,
đức Thầy đi
Bình Di thuộc quận Châu Phú thượng bây giờ là quận An Phú đến
tối mới về tới Châu đốc.
Cũng trong dịp này, vài ông sãi ở Khánh
An có nằm mộng thấy Phật về thôn họ. Nhưng khi đức Thầy đến
nhằm lúc dùng cơm, mấy ông sãi vẫn tiếp tục bữa cơm và không
đứng lên thi lễ. đức
Thầy mỉm cười nói với ông Hồ Văn Lang: "Người ta trông Phật,
nhưng khi gặp, lại chẳng biết nhìn". Bữa sau,
đức Thầy đi
Tịnh Biên. Bận về có ghé Tri Tôn, Thới Sơn và Nhà Bàng. Khi về
tới núi Sam, đức
Thầy lại viếng mộ Phật Thầy. Hôm sau, cuộc khuyến nông thuyết
pháp cử hành tại chợ Cái Dầu... Bữa sau,
đức Thầy quan
Tân Châu khuyến nông tại sân vận động rồi đi thẳng Hồng Ngự
khuyến thuyết... Chiều lại,
đức Thầy về tới
Hòa Hảo ngày 26.6 Ât Dậu.
đêm
đó, anh em tín đồ tựu lại quá đông. Anh em ấy ngồi sắp hàng
ngoài lộ, từ nhà đức
ông lên tới chợ
Mỹ Lương (Cái Tắc). đức
Thầy phải ra đường đi lên đi xuống, ngó qua ngó lại cho anh em
thấy mặt Ngài nhờ anh sáng của chiếc đèn măng sông do một
người cầm theo. Sáng bữa sau (27.5),
đức Thầy lên
diễn đài tại chợ Vàm (sân vận động)... chiều ngày 27
đức Thầy thuyết
pháp khuyến nông tại đình Hòa Hảo. Ngày 30.5
đức Thầy đem lư
hương từ Tổ đình
xuống chùa An Hòa Tự (Hòa Hảo). Ngày mùng 1 tháng 6,
đức Thầy qua
Năng Gù. Ban Trị Sự PGHH tỉnh Long Xuyên đón Ngài tại đó và
rước Ngài về Long Xuyên... Ngày 2.6,
đức Thầy đi
Vĩnh Trạch và núi Sập. Ngày 3.6,
đức Thầy đi Chợ
Mới, ngày 4.6, Ngài đi Mỹ Luông, ngày 5.6, Ngài đi
đốc Vàng (Tân
Thạnh). Chiều lại, Ngài về Mỹ Hội
đông. Sáng bữa
sau, đức Thầy
thuyết pháp tại sân vận động thôn Mỹ Hội
đông rồi về
Long Xuyên. Bữa sau đức
Thầy đi Thốt Nốt rồi trở về Long Xuyên. Rồi 11 giờ tối ngày
ấy, đức Thầy đi
luôn xuống Cần Thơ.
Diễn đài ở Cần Thơ là sân vận động của
tỉnh thành. Không cần phải nói, chư độc giả cũng dư biết rằng
số thính giả ở Tây đô
phải nhiều hơn các chỗ. Bữa sau,
đức Thầy đi Xà
No thăm gia quyến ông Hương Bộ Thạnh rồi thuyết pháp ở Cái
Tắc. Bữa sau nữa, đức
Thầy khuyếnnông tại Phụng Hiệp và Cái Răng. Trong các ngày kế
đó, đức Thầy
thuyết pháp tại Trà Mơn,
ô Môn, Cờ
đỏ. Có điều kỳ
lại là trong khi đức
Thầy khuyến nông tại Phụng Hiệp, trời chuyển mưa, mây đen kìn
kịt rồi mưa tuôn xối xả ở tại chợ, cách đó chừng 100 thước.
Nói tóm lại là chung quanh đều mưa to, duy có vùng
đức Thầy đang
thuyết pháp không có mưa.
Sau Cần Thơ là đến lượt Sa
đéc, Cao Lãnh,
Vĩnh Long, Tam Bình, An Trường, Trà Vinh, Càng Long, Bến Tre
tiếp rước đức
Thầy. Chính tại Sa đéc,
trong dịp đi khuyến nông này,
đức Thầy đã
viết bài "Phụ Nữ Ca Diêu". Ngày 28-7-1945,
đức Thầy đến
Vĩnh Long. Sáng bữa sau,
đức Thầy thuyết
khuyến tại sân vận động tỉnh thành. Trưa lại, anh em Thanh
Niên Tiền Phong và anh em tín đồ ở các thôn tụ họp lại để mong
đức Thầy thuyết
nữa. Lúc đó, gương mặt
đức Thầy thật là khả ái. Toàn thể thính giả đều quỳ để
nghe, trong lúc trời lâm râm rớt hột..."
(trang 247-257).
Có thể nói, cho đến năm 1945, trong lịch
sử Phật giáo Việt Nam, chưa có một nhân vật Phật giáo nào vừa
đi thuyết pháp, vừa đi khuyến nông, ở một quy mô lớn lao và
được tiếp đón trang nghiêm, long trọng như thế. Chỉ có thái
thượng hoàng Trần Nhân Tông, tức đại thiền sư Trúc Lâm của thế
kỷ 14, trong thời kỳ vàng son nhất cửa PGVN, may ra mới có
những cuộc viễn du thuyết pháp qua các làng mạc, tỉnh thành và
được nghênh đón như cách cảm động như thế. Sau này, trong thập
niên 60 của thế kỷ 20 này, thiền sư Trí Quang và các vị danh
tăng khác được đông đảo quần chúng Phật tử đón tiếp một cách
kính cẩn, cuồng nhiệt còn hơn thế nữa. Tuy nhiên các vị này đã
xuất hiện trong một không khí và thời cuộc Phật giáo đã chuyển
mình thức dậy, sau 500 ngủ say, tiếng thở như sấm và suy đồi
tận gốc.
Tác giả Thất Sơn Mầu Nhiệm kết thúc đoạn
viết về chuyến khuyến nông và hoằng pháp bằng bài thơ sau đây
của Huỳnh Phú Sổ: 'Trên đường về Sài Gòn, ngồi trong xe với
đức Thầy có thi
sĩ Việt Châu mà Ngài vừa mới thâu phục tại Sa
đéc...
đức Thầy bảo
ông Việt Châu thử làm một bài thơ tả cảnh ngồi trong xe trên
đường về Sài Gòn. Thấy ông ta nặn óc mãi mà chẳng ra thơ,
đức Thầy liền
ứng khẩu ngâm bài thơ dưới đây".
đây
là một trong những bài thơ hay nhất, tuyệt tác và độc đáo,
trong đó là một đoạn tóm lược đại nguyện bồ tác của tác giả:
"Tăng Sĩ
Quyết; Chùa, Am Bế Cửa,
Tuốt Gươm
Vàng Lên Ngựa Xông Pha.
đền Xong Nợ
Nước Thù Nhà,
Thiền Môn Trở
Gót Phật đà Nam Mô.
Chừng ấy mới
tịnh vô nhứt vật,
Bụi hồng trần
dứt sạch cửa Không.
Chuông linh ngân
tiếng đại đồng,
Ta bà thế giới
sắc không một màu.
Sài Gòn đến
trống lầu đã trở,
đề huề nhau
cửa mở xuống xe.
Khuyến nông chấm
dứt mùa hè..."
Chỉ một tháng sau đó, Nhật Bản đầu hàng
đồng Minh,
Huỳnh Phú Sổ tuốt gươm vàng xông pha giữa trời quê hương rực
cháy trong khởi nghĩa và chiến tranh.
E/ Quê hương
bừng dậy trong cách mạng và kháng chiến.
Trong năm 1945 nhiều biến cố quan trọng
đã xẩy ra và đưa toàn dân VN một cơ hội giành lại độc lập sau
80 năm bị Thực Dân pháp thống trị. Ngày 9/9/1945 Nhật đảo
chánh lật đổ chính quyền Pháp ở
đông Dương và
đặt sự cai trị lên trên ba nước Việt, Miên, Lào. Lực lượng
Thực Dân Pháp, trong thế yếu, bằng lòng đặt dưới sự điều động
của quân đội Nhật. ngày 12/3/1945 vua Bảo
đại ra tuyên
cáo hủy bỏ tất cả hiệp ước bất bình đẳng mà nhà cầm quyền VN
đã ký với pháp ngày 6/6/1862 và ngày 15/8/1884. Ngày 18/3/1945
một cuộc biểu tình lớn, quỵ 50.000 người tham gia gồm tất cả
đảng phái. Ngày 17/4/1945 chính phủ Trần Trọng Kim ra đời với
khẩu hiệu "Dân Vi Quý". Tháng 5/1945 nạn đói khủng khiếp hoành
hành miền Bắc, hàng triệu người chết đói, nguyên do quân đội
Nhật bắt dân phá đồng ruộng, trồng cây kỹ nghệ phục vụ chiến
tranh, thay vì trồng lúa, và một phần khác do tình trạng chiến
tranh, máy bay đồng
Minh dội bom phá hủy cầu cống nên gạo trong Nam không chở ra
Bắc được. Ngày 12/6/1956 Thanh Niên Tiền Phong, một tổ chức
thanh niên yêu nước, ra mắt đồng bào và biểu tình tại Sài Gòn.
đệ Nhị Thế
Chiến đi vào giai đoạn kết thúc, ngày 6 và ngày 8 tháng tám,
Hoa Kỳ thả hai trái bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki.
Ngày 14/8/1945 Huỳnh Phú Sổ cùng những lãnh tụ quốc gia tại
Sài Gòn như Hồ Văn Ngà, Trần Văn Ấn, Nguyễn Văn Sâm, Trần Văn
Thạch... đã thành công liên kết tất cả đảng phái và thành lập
Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất. Một ngày sau, Nhật tuyên bố đầu
hàng vô điều kiện. Ngày 21/8/1945 Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất
tổ chức một cuộc biểu tình vĩ đại với trên 200.000 người tham
dự, nhưng những người lãnh đạo đã không tuyên bố Việt Nam độc
lập và cũng không cướp chính quyền.
Một ngày sau, ngày 22/8/1945 Việt Minh
cướp chính quyền tại Hà Nội sau một cuộc biểu tình trước nhà
hát lớn Hà Nội, cuộc biểu tình này không do Việt Minh đứng tổ
chức, họ chỉ xuất hiện vào phút cuối, căng một số biểu ngữ và
hướng cuộc biểu tình tiến chiếm dinh Khâm Sai. Chỉ một ngày
sau, ngày 23/8/1945 vua Bảo
đại tuyên bố
thoái vị và trao quyền lãnh đạo cho Việt Minh. Ngày 24/8/1945
Tổng Bộ Việt Minh phái vào Nam Hoàng Quốc Việt (tức Hà Bá
Cang) và Cao Hồng Lãnh. Lúc bấy giờ, ảnh hưởng Việt Minh, cũng
như ảnh hưởng của đảng Cộng Sản
đông Dương, hầu
như không có gì đáng kể tại miền Nam. Ngày 25/8/1945 vua Bảo
đại trao quyền
và trao ấn, kiếm của Nhà Nguyễn cho đại diện Việt Minh là Trần
Huy Liệu.
Việt Minh, tức Việt Nam
độc Lập
đồng Minh Hội,
là một tổ chức ngoại vi của
đảng Cộng Sản
đông Dương, do
đảng này trực tiếp thành lập và chủ động lãnh đạo. Quyết định
vội vàng này đã để lại những hậu quả tai hại nghiêm trọng cho
dân tộc Việt Nam suốt trong nửa phần còn lại của thế kỷ 20
này: nó vô tình tiếp tay, một phần không nhỏ, trong việc tàn
sát những người yêu nước trong giai đoạn tranh quyền xẩy ra
ngay sau đó, làm cuộc tranh đấu giành độc lập của nhân dân
Việt Nam thêm khó khăn và tốn rất nhiều xương máu, đưa đến sự
chia cắt đất nước, chiến tranh khốc liệt, cả đất nước bị tàn
phá và dân tộc bị phân hóa cùng cực.
đáng
lý ra, trong giai đoạn này và trước sự kiện chính phủ Trần
Trọng Kim từ chức, vua Bảo
đại nên tuyên
bố Việt Nam là một nước Quân Chủ Lập Hiến, do vua đứng đầu làm
biểu tượng và đất nước được cai trị bởi một hiến pháp. Vua chỉ
định người đứng đầu Việt Minh là Hồ Chí Minh thành lập chính
phủ như đã chỉ định Trần Trọng Kim thành lập chính phủ. Và đây
phải là chính phủ đại đoàn kết dân tộc và chỉ có tính cách lâm
thời. đồng thời chỉ định một ủy ban soạn thảo hiến pháp và xúc
tiến việc bầu cử thành lập một quốc hội. Chính đảng nào có đa
số tại quốc hội sẽ được quyền thành lập chính phủ, lạnh đạo
hành pháp.
Hoặc giải pháp cấp tiến hơn là vua Bảo
đại tuyên bố
Việt Nam là một nước Cộng Hòa và vua là quốc trưởng và quốc
trưởng bổ nhiệm Hồ Chí Minh làm thủ tướng thành lập chính phủ.
(đây cũng chính
là đề nghị ông
Hồ Chí Minh đưa ra cho
ông Bảo đại
khi ông bị
những khó khăn đối ngoại và đối nội tràn ngập).
Việc vua Bảo
đại từ chức
thoái vị, giải tán chính phủ đương nhiệm và giải tán luôn cả
triều đại của mình, trao toàn quyền cho Hồ Chí Minh, và Việt
minh, trên thực tế là trao toàn quyền chính thống cho
đảng Cộng Sản
đông Dương, một
"chi bộ" của Cộng Sản Quốc Tế, là nhân vật và tổ chức mà chính
vua Bảo đại và
toàn dân Việt Nam chưa biết rõ, thì đó là một thái độ thiếu
chính trị và thiếu trách nhiệm. đúng như Lenin đã nói: "nhiệt
tình cộng với dốt nát bằng phá hoại". Không kể những hậu quả
tai hại không lường sau đó, kết quả tại hại trực tiếp mà mọi
người đềm cảm thấy là Việt Minh đã tàn sát không gớm tay tất
cả những người yêu nước có uy tín khác, bất chấp nhu cầu đại
đoàn kết dân tộc, bất chấp khát vọng ưu tiên của nhân dân Việt
Nam là tự do, độc lập, thống nhất quốc gia và thống nhất lòng
người. Huỳnh Phú Sổ, một nhật vật yêu nước, có uy tín lớn lao
tại miền Nam lúc đó, đã cùng với nhiều người yêu nước không
Cộng Sản khác, đã trở thành nạn nhân của Cộng Sản
đệ Tam.
Ngày 25/8/1945 Việt Minh tại miền Nam tổ
chức một cuộc biểu tình và cướp chính quyền tại Sài Gòn bằng
cách tuyên bố danh sách Lâm Ủy Hành Chánh Nam Bộ gồm 8 ủy viên
trong đó Cộng Sản là 5 người và Trần Văn Giàu tự phong làm chủ
tịch Ủy Ban. Ngày 2/9/1945 Hà Nội và Sài Gòn đều biểu tình, Hồ
Chí Minh đọc Tuyên Ngôn
độc Lập và ra
mắt đồng bào tại hội trường Ba
đình. Ngày
7/9/1945 các đảng phái quốc gia và Cộng Sản
đệ Tứ phản đối
đả đảo Lâm Ủy Hành Chánh, Trần Văn Giàu, Cộng Sản
đệ Tam, nhượng
bộ, mở rộng thành phần và Phạm Văn Bạch được bầu làm chủ tịch
Ủy Ban.
Ngày hôm sau, ngày 8/9/1945 một biến cố
quan trọng xẩy ra tại miền Tây: Phật Giáo Hòa Hảo biểu tình
tại Cần Thơ và đây là lần đầu tiên trong lịch sử chính trị VN,
đã có một cuộc biểu tình chống độc tài, cũng có nghĩa là chống
chính sách độc tôn của Cộng Sản.
đây là lần đầu
tiên tại VN, việc chống độc tài và cổ võ dân chủ được công
khai bày tỏ với sự tham dự của quần chúng. Cuộc vận động cho
tự do dân chủ tại Việt Nam hiện nay, và có lẽ sẽ kéo dài qua
thế kỷ 21 sắp tới, được bắt đầu từ ngày hôm đó tại Cần Thơ,
ngày 8/9/1945. Và biến cố này đã được thai nghén từ chủ trương
xây dựng dân chủ, chống độc tài dưới mọi hình thức của Huỳnh
Phú Sổ.
Sau cuộc biểu tình chống Thực Dân, chống
độc tài quy tụ khoảng 20.000 người, những người cầm đầu là
Huỳnh Thạnh Mậu, em ruột của Huỳnh Phú Sổ, Trần Văn Hoành,
trưởng nam ông Trần Văn Soái, Nguyễn Xuân Thiếp, đại diện PGHH
được phái ra Hà Nội tiếp xúc với Tổng Bộ Việt Minh, bị gán cho
tội "âm mưu cướp chính quyền và chiếm tỉnh Cần Thơ" và đều bị
bắt giam và bị đưa ra xử tử hình tại vận động trường Cần Thơ
ngày 7/10/1945, dù rằng cuộc biểu tình ngày ban tổ chức đã
thông báo và có xin phép, và được Ủy Ban Hành Chánh Tỉnh cho
phép biểu tình. Ngoài ra, sau vụ này, hàng ngàn tín đồ Phật
Giáo Hòa Hảo bị Việt Minh giam cầm và tàn sát.
Ngày 9/9/1945 Việt Minh bao vây trụ sở
Phật Giáo Hòa Hảo ở số 8 đường Sohier, gốc đường Miche để bắt
Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ nhưng không bắt được. Sau biến cố này,
ông phải cải trang, trốn tránh và lưu lạc ra vùng hẻo lánh ở
ngoại ô và các tỉnh lân cận. Ngày 13/9/ công an Việt Minh tìm
bắt các lãnh tụ quốc gia gần gủi với Huỳnh Phú Sổ như Vũ Tam
Anh, Hồ Văn Ngà, Trần Quang Vinh, Lương Trọng Tường và lãnh tụ
đảng Lập Hiến
Bùi Quang Chiêu.
Ngày 13/9 quân đội Anh do tướng Douglas
Gracey chỉ huy đổ bộ xuống Sài Gòn giải giới quân Nhật từ vĩ
tuyết 16 trở xuống. Ngày 15/9 quân đội Trung Hoa Dân Quốc do
tướng Lư Hán chỉ huy kéo xuống Hà Nội giải giới quân đội Nhật
từ vĩ tuyết 16 trở lên. Cả Anh và Trung Hoa Dân Quốc đều không
thừa nhận chính phủ Hồ Chí Minh. Ngày 16/9 quân Pháp đổ bộ Sài
Gòn. Tướng Gracey phóng thích và võ trang các phạm nhân Pháp.
Ngày 23/9 quân Pháp tấn công và chiếm đóng các cơ sở hành
chánh tại Sài Gòn.
Ngày 24/9 bốn sư đoàn dân quân cách mạng
nhất tề đứng dậy chống Pháp. Cuộc Kháng Chiến Nam Bộ bắt đầu.
Các lực lượng Việt Minh rút chạy, chỉ có các lực lượng dân tộc
liều chết chống quân Pháp. Ngày 27/9 một số lãnh tụ dân tộc
nhóm họp ở Chợ Lớn thành lập Chánh Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân
Quốc để tổ chức kháng chiến. Ngày 28/9 đại tá Pháp Cedille đề
nghị ngưng chiến, nên sau một ngày thương thuyết, hai bên
Việt-Pháp đồng ý hưu chiến kể từ ngày 1/10. Nhân dịp hưu
chiến, bộ máy công an Việt Minh đã bao vây bắt giữ tất cả các
lãnh tụ quốc gia như Hồ Văn Ngà, Dương Văn Giáo, Huỳnh Văn
Phương, Trần Quang Vinh, Bùi Quang Chiêu, có người bị sát hại
ngay, đặc biết là Việt Minh đã bắt giữ và tán sát gần một trăm
nhân vật Cộng Sản đệ
Tứ, tất cả đều bị chôn sống ở sông Lòng Sông, trong đó có
những nhân vật tên tuổi, đã có thành tích đấu tranh chống Pháp
như Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch...
Ngoài ra, ông Tạ Thu Thâu, 39 tuổi, lãnh
tụ nhiều uy tín, tài ba, đức độ, can trường của Cộng Sản
đệ Tứ khuynh
hướng Trotsky, và một nhà ái quốc tên tuổi, suốt đời hy sinh
chống Pháp, đã từng bị Thực Dân tù đày, tra tấn đến tàn phế
thân thể, cũng đã bị những người Cộng Sản
đệ Tam, khuynh
hướng Stalin, sát hại, thủ tiêu tại cánh đồng Dương Liễu trên
bờ biển Mỹ Khê vào tháng 9/1945. điều đáng nói là chính Trần
Văn Giàu đã hạ lịnh thủ tiêu Tạ Thu Thâu, dù Thâu là thầy dạy
học của Giàu, đã tận tình giúp đỡ Giàu còn du học bên Pháp và
coi Giàu như nghĩa đệ. Hay Hồ Văn Ngà, lãnh tụ đảng Việt Nam
Quốc Gia độc
Lập, cũng như hầu hết mọi người yêu nước đương thời, tuyên bố
"sẵn sàng phục vụ bất cứ ai có tài cứu quốc", đã cùng các lãnh
tụ quốc gia khác như Trần Văn Ấn, Nguyễn Văn Sâm thành lập Ủy
Ban Phong Tỏa đô Thành Sài Gòn-Chợ Lớn để ngăn cản bước tiến
quân của Thực Dân Pháp, và Ủy Ban làm việc khác hữu hiệu,
trong khi các cán bộ lãnh đạo Việt Minh đã bỏ chạy, thế nhưng
ông nửa đêm bị công an Việt Minh tới bắt đem đi mất tích, sau
đó ông bị đâm chết ở Kim Quy
đá Bạc (Rạch
Giá) thi hài thả trôi dưới sông.
Trong thời gian này, hàng ngàn nhân vật
quốc gia, các đảng viên đảng phải quốc gia và nhiều tăng sĩ
Phật Giáo, chức sắc Cao
đài, tín đồ
Phật Giáo Hòa Hảo cũng đều bị Việt Minh sát hại dưói nhiều
hình thức rất dã man. Không những Việt Minh sát hại những lãnh
tụ quốc gia, không đồng chính kiến với Cộng Sản, mà còn giết
hại nhiều người yêu nước và vô tội khác để giành độc quyền
lãnh đạo và gieo rắc sự khủng bố, sợ hãi trong dân chúng.
Tại Sài Gòn cũng như tại Hà Nội, Việt
Minh đã hòa hoản với Thực Dân Pháp, với quân anh, với quân
Trung Hoa để rảnh tay tiêu diệt những người yêu nước đang
kháng chiến chống Pháp. Dưới các chiêu bài "tố cáo bọn phản
quốc", "truy lùng Việt Gian", Việt Minh, tức Cộng Sản, đã tàn
sát rất nhiều người yêu nước. Phong trào truy lùng, xử án,
thảm sát "Việt Gian" này khởi đầu ở miền Nam sau lan ra khắp
nơi. Ai bị gán tội Việt gian thì khó thoát chết và thường đều
bị giết dưới hình thức chặt đầu, chặt làm ba khúc, mỗ bụng,
chôn sống...
Thời đó chính quyền kháng chiến ở trong
tay Việt Minh nên họ the hồ chụp mũ gán ghép cho những người
đối lập, bất đồng chính kiến hay cả nhữngngười đang kháng
chiến trong hàng ngũ Việt Minh nhưng có uy tín trong quần
chúng cái mũ "Việt Gian", "Phản động" để dễ dàng sát hại và
bôi đen, triệt hạ uy tín các nạn nhân của họ. Trong khi các
lực lượng kháng chiến yêu nước do những người không Cộng Sản
lãnh đạo liều chết chống quân xâm lăng, thì người đứng đầu
Cộng Sản tại Sài Gòn lúc đó là Trần Văn Giàu tập trung lực
lượng Việt Minh đi giết hại những người yêu nước và sau đó
trốn chạy qua tuốc bên Thái Lan và theo hồi ký của Trịnh Hưng
Ngẫu thì: Trần Văn Giàu, chủ tịch Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ
(của Việt Minh), chạy thoát sang Bangkok và gặp tôi ngày
13/6/1946. Trần Văn Giàu thú nhận rằng chính hắn ra lịnh thủ
tiêu gần 2.500 cán bộ quốc gia trong mấy tháng nắm chính
quyền". (Thành Nam, trang 364).
Những sự giết hại tàn bạo, quy mô này của
những phần tử sắt máu cầm đầu Việt Minh (tức Cộng Sản
đệ Tam, do Hồ
Chí Minh lãnh đạo) chưa từng có trong lịch sử chính trị Việt
Nam, đặc biệt trong giai đoạn đất nước đang đứng trong giai
đoạn sinh tử, dầu sôi lửa bỏng, đã tạo nên một bước ngoặc bi
thảm trong lịch sử, trong chính trị và trong sinh mệnh dân
tộc: dân tộc bị một ý hệ cuồng tín, một chính đảng sắt máu nắm
quyền lãnh đạo, chặt nát, phân đôi quốc dân, gây nội chiến,
hận thù, phân hóa cùng cực trong lòng dân tộc với những hậu
quả tai hại khủng khiếp không thể lường được, tai hại hơn sự
thống trị 80 năm của Thực Dân Pháp.
đảng Cộng Sản
Việt Nam phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về cuộc thảm sát
trong năm 1945, 1946, 1947 và những thảm họa mà dân tộc Việt
Nam phải gánh chịu trong suốt 50 năm qua.
Tài liệu mới đây của lãnh tụ công đoàn
Nguyễn Hộ cũng thú nhận Cộng Sản đã sát hại rất nhiều chức
sắc, tín đồ Cao đài
trong thời gian này. Hay tài liệu gần nhất đây của Hòa Thượng
Quảng độ cũng
tố cáo những người Cộng Sản cuồng sát "ngay sau ngày Cách
mạng thành công, ngày 19/8/1945, sư phụ tôi là hòa thượng
Thích đức Hải, trụ trì chùa Linh Quang, tỉnh Hà
đông, bị Cộng
Sản giết hồi 10 giờ sáng vì bị gán cho tội "Việt gian bán nước",
sư bá của tôi là hòa thượng Thích
đại
hải trụ trì
chùa Pháp Vân, tức chùa Dâu, thuộc tỉnh Bắc Ninh, đã bị Cộng
Sản bắt vào năm 1946, sau đó đã chết... " Không những thế sư
tổ của H.T. Quảng độ
là hòa thượng Thích Thanh Quyết, trụ trì chùa Trà Lung Trung,
tỉnh Nam định,
cũng bị bức tử chết trong vụ đấu tố ruộng đất hồi năm 1954.
Chỉ riêng sự phụ, sư bá, sư tổ của H.T. Quảng
độ mà đều bị
giết hại hết thì khắp cả nước, trong suốt thời gian từ 1945
đến nay, nghĩa là từ khi Cộng Sản nắm quyền, biết bao nhiêu
tăng sĩ và cư sĩ Phật tử đã bị Cộng Sản sát hại?
Có thể nói trong giai đoạn này, cũng như
trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Phật giáo đã bị tàn
sát, bức hại một cách quy mô và vô cùng rộng lớn. Trong khi
Thiên Chúa giáo được tập trung thành từng vùng, tuy cô lập
nhưng đông đảo, đồng nhất, dễ dàng tự bảo vệ, nên ít bị bắn
giết, đàn áp. Trong khi Phật giáo trãi rộng khắp trong nước và
thường có những nhân vật, hoặc tăng sĩ hoặc cư sĩ, là những
người có uy tín nhất trong địa phương và thường tham gia, ủng
hộ các đoàn thể dân tộc chống Pháp đương thời nên rất dễ bị
Việt Minh chụp mũ là Việt gian, phản động để giết hại. Một vị
cao tăng như Hòa Thượng Thích
đại Hải, trụ
trì một tổ đình lâu đời và lớn vào bậc nhất trong nước, là
chùa Dâu, mà còn bị Việt Minh giam cầm, bức tử, vì Ngài đã
tham gia, hổ trợ cho Việt Nam Quốc Dân
đảng, thì những
nhân vật Phật giáo yêu nước khác, ít tên tuổi hơn, lại càng dễ
bị thủ tiêu, sát hại.
Riêng Phật Giáo Hòa Hảo thì chỉ trong năm
1945, sau vụ biểu tình chống độc tài ngày 8/9 ở Cần Thơ, trên
dưới 10.000 cán bộ và tín đồ đã bị sát hại. Nếu kể luôn cả
thời kỳ tàn sát quy mô, sau khi Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ bị ám
hại, thì con số tín đồ PGHH bị Việt Minh Cộng Sản giết có thể
lên đến trên 25.000 người.
điều lạ lùng là
trong khi một tôn giáo cộng tác chặt chẽ và làm tay sai trung
thành cho Thực Dân suốt 80 năm, là Thiên Chúa Giáo, thì lại
không bị thiệt hai bao nhiêu trong thời kỳ này, khi Thực Dân
bị lật đổ và chưa kịp phục hồi sự thống trị của chúng. Trong
khi đó những tôn giáo thuần túy dân tộc, yêu nước chân thành
và tích cực đóng góp cho việc kháng chiến cứu quốc, từ Phật
Giáo, Cao đài,
đến Phật Giáo Hòa Hảo, thì lại bị bắn giết, thủ tiêu hàng loạt
và vô cùng tàn nhẫn. Bởi chính những người nhân dân tộc tộc,
kháng chiến, giải phóng, cứu quốc, cách mạng, dân chủ mới...
Ngày 4/10/1945 tướng Pháp Leclerc đến Sài
Gòn với một quân lực hùng hậu và tuyên bố tái lập trật tự trên
toàn Nam Kỳ trong vòng ba tháng và sau khi chiếm tất cả các
nơi, cuối cùng, ngày 4/2/1946, quân Pháp chiếm tỉnh lỵ Cà Mâu,
tỉnh cực Nam của miền Nam. Trước cuộc tái xâm lăng của Thực
Dân Pháp, những người Cộng Sản đứng đầu Lâm Ủy Hành Chánh,
được cải tổ thành Ủy Ban Nhân Dân Nam Bộ do Việt Minh lãnh
đạo, theo nguyên tắc, đã cướp được chính quyền trên toàn miền
Nam, đã bỏ chạy tứ tán, kẻ chạy tuốt ra miền Bắc như Dương
B