Chương hai: Tư
tưởng Phật Học của Thiền Sư Thích Thiện Chiếu.
A/ Cuộc đời và
hành trạng của Thiền Sư Thích Thiện Chiếu.
Cuộc đời cũng như tư tưởng của thiền sư Thích Thiện Chiếu
thật là lạ lùng, độc đáo. Theo cuốn Phật Giáo Việt Nam Sử
Luận, quyển ba, của Nguyễn Lang, thì
ông sinh năm
1898 ở Gò Công, tên đời là Nguyễn Văn Sáng, có lúc thì tên
Nguyễn Văn Tài, bí danh là Xích Liên (bông sen đỏ).
ông gần gủi
với Phật Giáo từ khi
ông tám tuổi qua ông nội là thiền sư Huệ Tịnh, trú
trì chùa Linh Tuyên, tỉnh Gò Công. Thiện Chiếu tinh thông
chữ Nho khi còn nhỏ và cũng đọc được sách bằng tiếng Pháp.
Năm 21 tuổi ông
lên Sài Gòn học thêm và đến năm 28 tuổi, năm 1926,
ông làm trú
trì, thật ra thì làm giáo thọ có lẽ đúng hơn, chùa Linh Sơn
tại Sài Gòn. ông
đọc được nhiều "tân thư"của Trung Hoa, sách Pháp ngữ nên
ngoài Phật Học, ông
là một trong những tăng sĩ hiếm hoi lúc đó biết rõ tình hình
chấn hưng Phật Giáo tại Trung Hoa, các tôn giáo, học thuyết,
chủ nghĩa và tình hình thế giới. Là một thanh niên trí thức
tinh thông Hán học, Phật học lại biết thêm tân học, xuất
thân từ một gia đình Phật Giáo có ông nội là thiền sư Huệ
Tịnh rất tinh thâm Nho học nên
ông đã dễ
dàng tạo những quen biết thân tình, có tính cách tri kỷ, với
các danh tăng đương thời như Tổ Khánh Hòa, sáng lập Hội Nam
Kỳ Nghiên Cứu Phật Học, thiền sự Trí Thiền, cố vấn của Hội
Phật Học này. ông
là một trong những người đi đầu, nhiệt tình nhất hăng hái
nhất, tích cực nhất, trong phong trào chấn hưng, hiện đại
hóa và thống nhất Phật Giáo Việt Nam cận đại. Tấm lòng của
ông đối với đạo
Phật đang suy đồi, đen tối thật là thiết tha. Và đồng thời
tấm lòng ông
đối với đất nước đang bị ngoại bang đô hộ, dày xéo, thật là
sôi nổi, cuồng nhiệt.
Năm 25 tuổi, năm 1923,
ông đã sát
cánh với thiền sư Khánh Hòa, cùng với các danh tăng đương
thời như Khánh Anh, Huệ Quang, Pháp Hải, thành lập Hội Phật
Giáo đầu tiên của Việt Nam là Hội Lục Hòa Liên Hiệp, ông đã
đi khắp Nam, Trung, Bắc để vận động thành lập một hội Phật
Giáo toàn quốc. ông
đóng góp đắc lực vào việc xây dựng những cơ sở hiện đại đầu
tiên của Phật Giáo Việt Nam trong việc hệ trọng là đào tạo
tăng tài và hoằng pháp như Thích Học
đường và Phật
Học Thư Xã năm 1928, cả hai cơ sở này đều đặt trụ sở ở chùa
Linh Sơn nơi ông
làm giáo thọ. Năm 1929
ông cùng Tổ
Khánh Hòa vận động mua cho Thư Xã bộ Tục Tạng Kinh 750 tập.
ông cũng góp
phần quan trọng trong việc xuất bản tờ báo Phật Giáo đầu
tiên tại Việt Nam là tờ Pháp
âm, số ra mắt
ngày 13-08-1929. Chính
ông sau đó ra
tạp chí Phật Học thứ nhì tại Việt Nam, và hết sức mới lạ, so
cả với bây giờ, là tờ Phật Hóa Tân Thanh Niên, nhắm tới giới
thanh niên trí thức. Có lẽ tờ bào này đã gieo những hạt nhân
cho giới thanh niên trí thức, cư sĩ cũng như tăng sĩ đương
thời, từ đó hình thành Tổ Chức Gia
đình Phật Hóa
Phổ, tiền thân của Tổ Chức Gia đình Phật Tử Việt Nam (nhưng
tờ báo vừa ra đã bị Thực Dân Pháp đóng cửa). Chắc hẳn
ông cũng là
một trong những nguyên nhân xúc tác việc thành lập Hội Nam
Kỳ Nghiên Cứu Phật Học nhưng là một thanh niên trí thức yêu
nước cuồng nhiệt, ông
chắc hẳn đã hết sức bất bình khi Hội này mời Thống đốc Nam
Kỳ làm hội trưởng danh dự và Hội bị những phần tử thân Pháp
khuynh loát. Không những Thiện Chiếu mà người sáng lập ra nó
là Thiền Sư Khánh Hòa cũng phải thất vọng và ra đi:
ông rút về
chùa Long Hòa, tổ chức một Phật Học
đường lưu
động lấy tên là Liên
đoàn Phật Học Xã và thành lập hội Lưỡng Xuyên Phật
Học tại Trà Vinh, cuối cùng giấc mơ của Tổ Khánh Hòa được
thực hiện: Phật Học
đường Lưỡng Xuyên (Lưỡng Xuyên có nghĩa là "hai con
sông", sông Tiền Giang và sông Hậu Giang) được chính thức
khai mạc vào cuối năm 1934. (Nguyễn Lang, sđd, t 59).
Trong thời gian này, thiền sư Thiện Chiếu cư trú ở chùa Hưng
Long, Chợ Lớn. ông
không những bất mãn với những cư sĩ quan chức của Pháp như
ông Trần Nguyên Chấn, người chủ chốt của Hội Nam Kỳ Nghiên
Cứu Phật Học, ông
còn bất mãn với sự cổ hủ, lạc hậu và bảo thủ của Phật Giáo
và của đạ đa số tăng sĩ đương thời, kể cả với Thiền Sư Khánh
Hòa. ông viết
những bài báo nóng bỏng, sôi động, đả kích mạnh mẽ tình
trạng Phật Giáo và Phật Học đương thời, đồng thời bỏ công
sức viết và tự xuất bản khoảng mười cuốn sách Phật Học, đa
số đều gây chấn động và những cuộc tranh luận sôi nổi.
Cuối cùng, vừa bất đắc chí với giới tăng già và tình trạng
bảo thủ, lạc hậu của Phật Giáo, vừa thất vọng vì thấy phật
Giáo bất lực không giải quyết được vấn đề xã hội và đất
nước, và vừa do tấm lòng ái quốc chống Pháp, chống Thực Dân
cuồng nhiệt, nên ông
cởi áo tăng sĩ, bỏ chùa Hưng Long trở về cuộc đời cư sĩ và ở
nhà một người bạn cư sĩ ở Gò Vấp. Năm 1936,
ông về Rạch
Giá tiếp tục hoạt động mạnh mẽ trong hàng ngũ Phật Giáo,
theo một khuynh hướng tiến bộ, hoàn toàn khác biệt với các
sinh hoạt Phật Giáo đương thời. Tại đây ông cùng thiền sư
Trí Thiền lập Hội Phật Học Kiêm Tế, lấy chùa Tam Bảo ở làng
Vĩnh Thanh Vân làm trụ sở. Hội ra tạp chí Tiến Hóa năm 1938.
Hội Phật Học Kiêm Tế không những chỉ là hội nghiên cứu và
truyền bá Phật Pháp (Phật Học) mà còn là hội cổ võ và thực
hành kinh bang tế thế nữa (Kiêm Tế). Hội thành lập một cô
nhi viện Phật Giáo đầu tiên tại Việt Nam, cứu trợ nạn nhân
bảo lụt ở Rạch Giá. Như con người Thiện Chiếu, tạp chí Tiến
Hóa tuyên bố không những "tuyên truyền"cho Phật Học mà còn
"truyên truyền cho bất cứ học thuyết nào có đủ phương pháp
làm chúng sanh khỏi khổ được vui". Không những thế, những
học thuyết nào có tính cách từ bi bác ái đều được Tiến Hóa
công nhận là Phật Pháp. Tiến Hóa chủ trương một đường lối
triệt để cách mạng, vô cùng mới mẻ và táo bạo và gây sóng
gió trong giới tăng già, có người quy kết Tiến Hóa là Cộng
Sản và thân Nhật nhưng Hội Phật Học Kiêm Tế được nhiều người
ủng hộ trong đó có danh tăng Trí Thiền (Cố Vấn Hội Nam Kỳ
Nghiên Cứu Phật Học).
ông đã làm
giấy cúng hết tài sản chùa cho Hội như là sự bày tỏ cụ thể
và triệt để sự ủng hộ của ông.
đường lối
cách mạng cấp tiến của những người lãnh đạo Hội Phật Học
Kiêm Tế biến chùa Tam Bảo thành một trung tâm quy tụ những
nhà ái quốc chống Pháp như cử nhân Hán học Vũ Ngọc Hoành,
một cán bộ của Phong Trào
đông Kinh
Nghĩa Thục, đưa chùa Tam Bảo trở thành một chiến khu bí mật
chống Pháp. Cuối năm 1939 chùa Tam Bảo bị đóng cửa, Thực Dân
Pháp tố cáo trong chùa có chứa vũ khí và chế tạc đạn, thiền
sư Trí Thiền và nhiều người khác bị bắt và bị đày đi Côn
đảo. ông, một
cao tăng vì yêu nước chống Pháp, đã hy sinh trong nhà tù Côn
đảo. Trong vụ bố ráp chùa Tam Bảo, thiền sư Thiện Chiếu là
lý thuyết gia của nhóm, chính
ông đã đem tư
tưởng cách mạng xã hội chủ nghĩa truyền bá tại đây, đã may
mắn trốn thoát. Từ đó
ông không còn
sinh hoạt trong hàng ngũ Phật Giáo và thoát ly theo hẳn con
đường kháng chiến chống Pháp.
ông tham gia
phong trào Nam Kỳ Khởi Nghĩa do
đảng Cộng Sản
đông Dương
phát động ở Hốc Môn, Bà điểm. Năm 1942,
ông bị mật
thám Pháp bắt được, đày đi Côn đảo.
ông bị Thực
Dân Pháp tra tấn đến bại xuội. Sự tra tấn, tù đày dã man của
Thực Dân chỉ làm con người đại hùng đại lực của
ông thêm sắc
đá, cứng rắn và kiên định trong lý tưởng cách mạng. Mặc khác
ở Côn đảo gần 9/10 tù nhân chính trị là tù nhân Cộng Sản nên
có lẽ trong thời gian tù đày này,
ông đã tham
gia vào đảng
Cộng Sản đông
Dương. Sau cách mạng tháng tám năm 1945,
ông trở về
đất liền tiếp tục hoạt động. Năm 1954
ông đi tập
kết ra Bắc. Năm 1956 ông qua Trung Hoa làm trưởng tổ ban
phiên dịch của nhà Xuất Bản Ngoại Văn ở Bắc Kinh. Năm 1961
ông trở về Hà
Nội làm ở Viện Triết Học. Năm 1965
ông về hưu
trí và mất ở Hà Nội ngày 6/7 âm lịch năm 1947, thọ 74 tuổi.
(NL, sđd, t 64-76).
Con người tăng sĩ và cư sĩ Thích Thiện
Chiếu trong thời gian còn mang lý tưởng phụng sự Phật Giáo
và Dân Tộc, lấy thời điểm
ông làm giáo
thọ chùa Linh Sơn, Sài Gòn, năm 1926, đến khi chùa Tam Bảo,
Rạch Giá bị Thực Dân Pháp càn quét năm 1939, chỉ trong 13
năm, ngoài vô số hoạt động hăng hái, tích cực nhất trong
giới Phật Giáo thời đó và ngoài những bài báo bốc lửa, vũ
bão, ông đã
viết và xuất bản hơn 10 tác phẩm, tác phẩm nào cũng giá trị,
mới lạ và sôi nổi, đó là các tác phẩm: Phật Học Vấn
đáp, Phật Hóa
Tân Thanh Niên, Cái Thang Phật Học, Phật Học Tổng Yếu, Phật
Pháp là Phật Pháp, Tranh Biện, Tôn Giáo, Tại Sao Tôi Cám
ơn
đạo Phật và
các công trình dịch Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Pháp Cú, Phật
Giáo Vô Thần Luận của Thái Hư.
Kể từ năm 40 trở đi, khi
ông tham gia
Nam Kỳ Khởi Nghĩa và thoát ly trở thành một nhà cách mạng
chuyên nghiệp, và ông
không còn sinh hoạt trong hàng ngũ Phật Giáo, cho đến khi
ông mất năm
74, tổng cộng 34 năm, không thấy ông để lại tác phẩm gì. Có
lẽ trong thời gian tập kết ra Bắc,
ông cũng như
những người kháng chiến yêu nước khác, Phật Giáo hay không
Phật Giáo, đã hoàn toàn vỡ mộng và đã bị kềm chế, không thể
hoạt động gì và cũng không thể viết lách, sáng tác gì cả.
được
biết trong thời gian ở miền Bắc
ông đã tỏ ra
bất mãn với chế độ.
ông thất vọng và đau đớn vì những người đồng chí mới
của ông -
những người Mác Xít – đã đàn áp, bóp nghẹt Phật Giáo. Nhưng
dù sao phần đời của
ông, hiến dâng cho lý tưởng giái phóng dân tộc, từ
năm 1940 trở đi, đã thuộc về dân tộc, về lịch sử và tôi cúi
đầu khâm phục, không phê phán, trước sự hy sinh cao quý, vĩ
đại, của ông
và của thế hệ ông
cho sự nghiệp kháng chiến cứu quốc khỏi ách thống trị tàn ác
của Thực Dân Pháp, trong một hoàn cảnh lịch sử bế tắc và mù
mịt. ở đây,
ta chỉ nhìn lại và phê bình tư tưởng Phật Học của
ông, từ năm
1923, khi ông
cùng thiền sư Khánh Hòa lập Hội Lục Hòa, cho đến năm 1939
khi tất cả đồng chí Phật Giáo của
ông trong Hội
Phật Học Kiêm Tế, tăng sĩ cũng như cư sĩ, đã bị quân xâm
lăng bắt giữ, tra tấn, tù đày.
ở Thích Thiện Chiếu, con người yêu đạo
Pháp thiết tha và con người yêu quê hương sôi nổi đã hòa
nhập làm một bất khả phân ly. ở
ông, con
người lý tưởng lý thuyết sâu sắc nhưng bốc lửa và con người
hành động, dấn thân kiên trì, cuồng nhiệt cũng là nhất quán
và không thể tách rời. Phật Giáo Việt Nam có hàng chục ngàn
tăng, ni và hàng triệu, triệu Phật Tử, thế nhưng 70 năm qua
đã có mấy tăng sĩ hay cư sĩ Việt Nam chịu khó viết hơn 10
cuốn sách? và đã có mấy ai có một cuộc đời tuổi trẻ hào
hùng, đáng sống như
ông?
Trình bày và phê bình tư tưởng Phật Học
của Thích Thiện Chiếu cũng có nghĩa là trình bày và phê bình
tư tưởng Phật Học của những đồng chí cùng thời với
ông.
Tôi vừa hổ thẹn, vừa hãnh diện khi làm
công việc này. Hổ thẹn vì tư tưởng của Thích Thiện Chiêéu và
của một số tăng sĩ, cư sĩ thời đó còn táo bạo hơ là tư tưởng
của chính tôi ngày nay, và hãnh diện vì, từ lâu tha thiết
với việc hiện đại hóa Phật Giáo, tôi không ngờ cách đây 6, 7
chục năm mà Phật Giáo Việt Nam đã có những tư tưởng mới lạ,
tiến bộ như thế và những con người tài giỏi cấp tiến và xứng
đáng như thế. Tuy nhiên, trong hàng ngũ Phật Giáo Việt Nam,
chỉ có một số ít chấp nhận tư tưởng cấp tiến của Thích Thiện
Chiếu. Hai ngàn năm lịch sử Phật Giáo Việt Nam quả thật vừa
là một di sản vô giá, vừa là một gánh nặng ngàn cân.
B/ Tư tưởng
Phật Học của Thiền Sư Thích Thiện Chiếu và của các bạn cùng
lý tưởng.
Từ năm 1932, khi mà chủ nghĩa Mác Xít cả
nước chưa có được mấy người biết đến, khi mà
đạo Thiên
Chúa cũng chưa mấy ai trong giới thanh niên trí thức quan
tâm dòm ngó đến, khi mà Phật Giáo toàn quốc đang ngủ say,
"tiếng thở như sấm", nói theo chữ của Phan Chu Trinh, thì
trong cuốn sách Phật Giáo Vấn đáp, Thiện Chiếu đã cho nổ
những quả bom tư tưởng mới lạ và táo bạo:
"đau đớn thay, lạ lùng thay. Muốn bênh
vực rằng Phật Giáo không phải là một đạo mê tín hoang đường
thì sờ sờ ra đó biết bao nhiêu là chuyện huyền hoặc dị đoan.
Muốn bào chữa cho Phật Giáo không phải là một đạo hữu thần,
thì nhan nhãn ra đó cũng cầu xin, cũng chuộc tội, có khác
nào những kẻ ỷ lại thần quyền. Muốn khoe Phật Giáo là một
đạo cứu đời thì hàng Phật Tử nếu không phải chán đời mà lên
non ẩn hạng ắt cũng ích kỷ chỉ lo quanh quẩn trong gia đình
chớ không biết gì đến công ích của xã hội cả. Muốn nói Phật
Giáo là là đạo thoát khổ, thì người theo đạo cũng buồn rầu
khiếp sợ, cũng theo hoàn cảnh mà đổi dời, cũng cực khổ lầm
than, chỉ cứ trông đợi kiếp sau chớ không biết ra tay mà cải
tạo.
Như vậy bảo sao Phật Giáo không tiêu
diệt theo các tôn giáo khác trước khi thế giới đại đồng cho
được? Thế thì người có nhiệt tâm với Phật Giáo, hay nói cho
đúng, là người có nhiệt tâm với nhân loại quần sanh, phải lo
tìm phương bổ cứu duy trì, hay chỉ khoanh tay ngồi ngó và
than vắn thở dài mà thôi?
Nếu thiệt có lòng bổ cứu duy trì Phật
Giáo là một chiếc thuyền tế độ ở giữa biển khổ sông mê,
không nỡ để cho tiêu diệt theo các tôn giáo khác, thì chẳng
những giáo hội (hay hạng người xuất gia) phải nghiên cứu
Phật Học, phát dương những ý hay nghĩa lạ ra cho thích hợp
với nhu cầu của nhơn sanh, dẹp bỏ hết các việc mơ hồ trái
lẽ, chớ quá chấp nê theo hủ tục, mà tín đồ (hay hạng người
tại gia) cũng phải làm cho tròn cái bổn phận của một người
tín ngưỡng Phật Giáo, một cách chơn chánh, cũng phải kiểu
chánh lại những chỗ sai lầm của giáo hội (vì giáo hội hiện
thời là một giáo hội hư hèn, không có trật tự) chớ nên vì ý
riêng, vì tình cảm mà chia bè lập đảng, tin bướng theo càn.
được như vậy
thì cái yến sáng Phật Giáo mới mong chói lọi ở đại đồng thế
giới sau này" (Nguyễn Lang,
Sđd, t 72).
Rõ ràng
ông là một
người chủ trương cải cách, chấn hưng Phật Giáo hăng say,
cuồng nhiệt nhất thời đó. Dám đụng độ vào giới tăng sĩ, chê
các Thầy, các bạn đồng môn đồng lữ của mình là "hư hèn,
không có trật tự", ông
còn dám đập thẳng vào giới trí thức Phật Tử quy tụ khá đông
đảo trong Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học. Trong sách nói
trên, ông chê
trách "nghiên cứu" của Hội này không phải là thứ nghiên cứu
đứng đắn:
"Nói rằng nghiên cứu là phải lấy
phương pháp thiệt nghiêm của khoa học làm căn bản, lấy sự
thiệt trên lịch sử làm chứng cớ, thì mới có thể phát huy
nghĩa mầu trong sách Phật, và mới tránh khỏi những hoang
đường vô lý do người sau thêm vào, chớ không phải cứ theo
sách mà dịch càn rồi cũng xưng là nghiên cứu Phật học. Và
phải làm thế nào cho tín đồ có sự hiểu biết thông thường về
Phật Giáo thì người ta mới biết cái bổn phận của người tại
gia, mới biết chỗ sai lầm của giáo hội" (NL, sđd, t 73).
Không những là một tăng sĩ trẻ cấp tiến,
ông còn là
một thanh niên trí thức yêu nước mãnh liệt. Ngay từ những
năm 1925, 1926 nhân có những buổi diễn thuyết của Nguyễn An
Ninh, của Phan Chu Trinh, hay đi đám tang Pha Chu Trinh,
theo Trần Văn Giàu, trong cuốn Sự Phát Triển Của Tư Tưởng ở
Việt Nam Từ Thế Kỷ 19
đến Cách Mạng
Tháng Tám, quyển hai, thì những dịp này có "hàng chục cái
đầu thanh niên cạo bóng" tham dự hay "hôm đi rước Bùi
Quang Chiêu (lãnh tụ đảng Lập Hiến từ Pháp trở về) có hơn 20
ông sư trẻ. Bị chất vấn "ai xui thầy chùa đi biểu
tình", giáo thọ Thiện Chiếu thuộc chùa Linh Sơn đã viết
bài trả lời trên báo rằng: "Thuyết Từ Bi cứu khổ của
Phật Tổ xui Phật Tử tham gia những cuộc vận động yêu nước
thương dân chớ không ai xui cả" (trang 230).
Từ rất sớm, khi trên dưới 25 tuổi, đại
đức Thiện Chiếu đã dán hai câu đối ngang tàng, hào hùng ngay
trên cửa chính của chùa Linh Sơn, nơi ông làm giáo thọ:
"Phật Pháp thị
nhập thế phi nhi yếm thế
Từ bi nãi sát
sinh dĩ độ chúng sinh".
(đạo
Phật là nhập thế chớ không phải yếm thế
Từ bi có lúc phải sát sinh để cứu độ
chúng sinh).
Thiện Chiếu không đơn độc. Những người có
ý thức, tăng sĩ cũng như cư sĩ trong thời của ông, cũng đã
mạnh dạn lên tiếng báo nguy về tình trạng suy đồi của Phật
Giáo và vận động chấn hưng Phật Giáo. Cư sĩ Khánh Vân đã
viết bài: "Phật Giáo ở nước ta vì đâu chịu cái hiện trạng
suy đồi?" đăng trong tạp chí Duy Tâm số 18 khẳng định con
người suy đồi nhưng Phật Pháp vẫn còn giá trị, Phật Giáo suy
đồi vì tăng sĩ không hiểu đạo Phật và khinh thường giới
luật:
"Có kẻ mượn Phật làm danh, cũng ngày
đêm hai buổi công phu, thọ trì, sóc vọng, cũng sám hối như
ai, nhưng lại thủ dị cầu kỳ, học thêm bùa ngãi, luyện roi
thần, làm bạn với thiên linh cái, đồng nhi, khi ông lên lúc
bà xuống, ngáp vắn ngáp dài, thư phù niệm chú, gọi là cứu
nhân độ thế, nhưng thực ra là lợi dụng lòng mê muội của
thiện nam tín nữ, mở rộng túi tham quơ vét cho sạch sành
sanh. Than ôi, họ phải ma vương sao mà làm chuyện trò cười
cho ngoại đạo? Vậy mà cũng lên mặt trụ trì. Hiện trạng như
thế bảo sao chẳng suy đồi, làm tấm bia cho các nhà duy vật
mỉa mai? ".
Trong báo
đuốc Tuệ số
178, Thanh Quang kể các khuyết điểm của tăng đồ về văn hóa,
giáo dục, tổ chức, rồi kết luận: "đau
đớn thay, xứ ta những hạng người xuất gia vào chùa phần
nhiều chỉ học đặng vài bộ kinh, lo luyện hơi cho hay, tập
nhịp tán cho già, nay lãnh đám này mai lãnh đám khác, cũng
tràng hạt, cũng cà sa, thử lật mặt trái của mà xem thì có
khác nào người trần tục? " (TVG, sđd, t 230-235).
Viên
âm, tạp chí
của Hội An Nam Phật Học với những cư sĩ trí thức có Phật học
và tân học vững chãi như bác sĩ Lê
đình Thám đã
nêu lên ba mục tiêu của sự chấn hưng Phật Giáo: "Vì sự
tấn hóa của trí thức người xứ ta về mặt luân lý, vì khoa học
tuy đánh đổ sự mê tín nhưng tự mình không có năng lực tạo
thành hạnh phúc cho nhân loại, vì phải có một đạo lý vững
vàng để làm cho khoa học phục tỉnh, để đào tạo đức tính của
loài người".
Tóm lại Viên âm cho rằng sự tiến hóa trí
thức, đạo đức của người Việt Nam ngày nay đòi hỏi phải chấn
hưng Phật Giáo. Viên âm có tham vọng đem đạo Phật bổ túc cho
khoa học để mang lại hạnh phúc cho con người. (NL, sđd, t
31-350.
Một cách tổng quát, phong trào chấn hưng
Phật Giáo đầu thập niên 30 cho đến giữa thập niên 40 trên cả
ba miền Nam, Trung, Bắc đều nhắm đến những mục đích sau:
- Thứ nhất là truyền bá đạo Phật, về căn
bản đã thất truyền, bằng quốc ngữ và thật sự đã thành công
hơn bao giờ hết trong việc mang đạo Phật đến quảng đại quần
chúng. Vì ngay cả trong những thời hưng thịnh, đạo Phật chỉ
được truyền bá, nghiên cứu bằng chữ Nho nên rất giới hạn.
Thời đó, ngay từ năm 1935 trên các nhật báo đã có trang Phật
Học, ngoài hơn 10 tạp chí Phật Học được phát hành trong
nước. Và rất nhiều kinh sách bằng hán văn đã được dịch và
phát hành, dù rằng việc Việt hóa nghi lễ, kinh sách Phật
Giáo và giới thiệu một cách đầy đủ và giản dị Phật Pháp cho
quảng đại quần chúng Phật Tử đến nay vẫn còn là một công
việc trọng đại, to lớn cần nhiều nổ lực hơn nữa.
- Thứ hai là đặt trọng tâm vào việc đào
tại tăng, ni có kiến thức Phật học song song với việc "chỉnh
lý tăng già". Việc này tại miền Trung đã thực hiện mạnh mẽ
và khá thành công như thành lập Hội
đồng Luật Sư
để trừng phạt các tăng sĩ phạm giới, phân biệt hẳn thầy cúng
và tăng già, cấm hẳn thầy cúng mặc áo tràng, áo nhật bình, y
nâu hay y vàng, thầy cúng chỉ được mặc áo màu xám và không
được ở chùa. Ngoài ra cư sĩ, Phật tử được khuyến khích tham
gia vào việc "chỉnh lý tăng già" bằng cách: - không nhận
người phá giới là tăng sĩ – xé bỏ những điệp quy y thọ giới
do các ông thầy tu nói trên ban cho – công bố sụ phạm giới
có bằng cớ của tăng sĩ – không tham gia vào những công việc
không phù hợp Phật pháp – tham gia vào việc hoằng dương
chánh pháp và chỉnh đốn tăng già. (NL, sđd, t 93).
- Thứ ba là hiện đại hóa Phật Giáo, đem
cho đạo Phật cổ truyền, một tinh thần và hình thức mới, hợp
với thời đại, hợp với khoa học và nhập thế tích cực trong
mọi lãnh vực của đời sống xã hội. Công việc này phải nói là
chưa đạt được những thành tựu đáng kể vào thời đó cũng như
mãi cho đến ngày nay. vì bản chất người Việt Nam, Phật tử
cũng như tín đồ các tôn giáo khác, rất bảo thủ. Cho đến nay
chỉ có một ngoại lệ vượt bực và ngoạn mục trong chiều hướng
này là sự xuất hiện của thiền sư Huỳnh Phú Sổ và sự ra đời
của Phật Giáo Hòa Hảo năm 1939.
đây quả thật
là một cuộc cách mạng trong lòng Phật Giáo Việt nam mà cho
đến nay vẫn chưa được nhìn nhận và đánh giá đúng mức.
- Thứ tư là tập hợp lực lượng Phật Giáo
từng địa phương, từng miền thành một giáo hội Phật Giáo
thống nhất trên toàn quốc.
đây là công
việc gian nan, lâu dài, khởi đầu từ năm 1923 với Hội Lục Hòa
của Tổ Khánh Hòa và thiền sư Thiện Chiếu, mãi đến gần 30 năm
sau mới thành lập được Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, năm
1951, nhưng các giáo hội và hội Phật Học vẫn giữ nguyên cơ
chế riêng biệt cho đến năm 1964 mới thành tựu trong Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (xem thêm Nguyễn Lang, sđd, t
13-177).
Là một trong những người tiền phong và
lãnh đạo của phong trào chấn hưng Phật Giáo, thiền sư Thiện
Chiếu đã đóng góp hăng say, sôi nổi, bằng hành động cũng như
bằng các tác phẩm Phật học.
ông là người
đầu tiên từ miền Nam ra Trung, ra Bắc để vận động thống nhất
Phật Giáo. ông
là người đã góp công lớn lao trong việc truyền bá đạo Phật
đến giới thanh niên, trí thức. Và hơn thế nữa những tác phẩm
của ông đã
gây chấn động và tranh luận suốt mấy năm trời, nhờ thế Phật
Giáo càng được dư luận, giới trí thức và quảng đại quần
chúng quan tâm, tìm hiểu.
ông cũng đã
làm giáo thọ giảng dạy tăng, ni trong nhiều năm và giúp đắc
lực cho Tổ Khánh Hòa thực hiện các Phật Học
đường đào tạo
tăng tài. ông
cũng đã có những hành động mạnh mẽ trong việc chỉnh lý tăng
già, phê phán triệt để "sự hư hèn" của giáo hội, của giới
tăng sĩ.
ông
là người đầu tiên đã đặt vấn đề hiện đại hóa Phật Giáo một
cách triệt để, toàn diện và cấp tiến nhất.
đồng thời
ông cũng là
người đưa đạo Phật vào đời để cứu nước và phụng sự xã hội
một cách mạnh mẽ nhất, không từ nan bất cứ việc gì, từ việc
mở cô nhi viện đến việc đi biểu tình và tham gia kháng chiến
chống thực dân. Nhưng hơn tất cả các điều này là
ông đã vượt
qua tất cả. ông
viết và hành động không phải như một tăng sĩ, cũng không
phải như một cư sĩ Phật tử, mà ông viết và hành động như một
nhà trí thức, một con người tự do, một nhà cách mạng và một
kẻ phản kháng, một kẻ nổi loạn. Và cuối cùng
ông đã đập
thẳng vào Phật pháp, nền tảng và yếu tính của Phật Giáo, một
tôn giáo khai phóng, bao dung, phá chấp và tự do nhất trên
trái đất. để
rồi bị rơi ngã vào một ý thức hệ non nớt, lệnh lạc: ý thức
hệ Mác Lê.
40 năm đầu tiên của đời ông, ông đã bay
thênh thang, hùng tráng, như rồng, như sư tử trong một không
gian mênh mong vô tận, đó là đạo Phật. Và 34 năm cuối cùng
của đời ông, ông đã sống và chết uất trong một không gian tù
túng, đó là chủ nghĩa duy vật Cộng Sản.
Bây giờ ta hãy đọc thật kỷ để nghe, để
nhìn lại những tiếng gầm dữ dội của một con sư tử và những
đường bay ngang tàng của một chim phượng hoàng, trong cuối
thập niên 20 đến cuối thập niên 30.
Tác phẩm Phật
học Tổng
yếu của Thiện
Chiếu, xuất bản năm 1929 đã nổi lên một cuộc tranh luận chưa
từng có, kèo dài suốt 3, 4 năm trời từ năm 1929 đến năm 1932
trên các báo Trung Lập,
đông Pháp
Thời Báo, đuốc
Nhà Nam, Thần Chung và các tạp chí Phật Học.
đây
chỉ là một cuốn sách nhỏ nhưng tiếng vang rất lớn, thu hút
giới Phật tử và trí thức đương thời. Thiện Chiếu mở đầu tác
phẩm của mình như sau: "Phật Học Tổng Yếu là một bức
huyết lệ thư, một quyển sách cốt để giới thiệu với các nhà
trí thức trong nước, muốn cho nhà trí thức nghiên cứu Phật
học đặng làm
kế tạo nhân cho Phật học giới. Phật
học Tổng
yếu là cuốn
sách bày tỏ dị điểm của Phật
giáo với các
tôn giáo khác". Qua tác phẩm này cũng như nhiều tác phẩm
khác, ông, lần đầu tiên tại Việt Nam, gây ra những cuộc
tranh luận sôi nổi về những vấn đề muôn thủa của con người
và cũng là những vấn đề muôn đời của triết học và các tôn
giáo, đó là các vấn đề về thượng đế, về linh hồn, về thiên
đàng, địa ngục. Và ông đã đặt những nan đề triết học và thần
học này ở mức độ lý luận rất cao.
a/ Bác bỏ
thượng đế: Hơn cả triết
gia Nietzsche tuyên bố thượng đế đã chết, Thiện Chiếu quả
quyết thượng đế chỉ là sự bịa đặt của tà đạo.
ông cho rằng
Phật Giáo là "vô thần giáo". Theo Thái Hư đại sư,
ông khẳng
định đức Phật
không bao giờ nói có thượng đế sáng tạo vũ trụ.
ông đồng ý
quan niệm Phật Giáo cho rằng vũ trụ vô thủy vô chung, và do
vô số nhân duyên tạo thành.
ông cho rằng
lúc nhân loại dã man thì cần tôn giáo (theo nghĩa tôn giáo
hữu thần - thờ một vị thượng đế) khi nhân loại được khai hóa
thì tôn giáo chẳng những trở ngại cho sự tiến hóa mà còn làm
thiệt hại cho nhân loại nhiều bề như chiến tranh tôn giáo,
cường quyền lợi dụng tôn giáo... nên ông cho rằng: "nếu
ngày nay mà tôn giáo có hại thì tự nhân loại dẹp nó đi cũng
phải. Tôi nói như thế, có người cho tôi là duy vật,
matérialiste. Không, tôi không phải là duy vật, tôi chỉ là
người Phật học mà thôi".
ông cho Phật
giáo là một tôn giáo, nhưng khác với tất cả tôn giáo khác,
đó là tôn giáo không có thượng đế hay một tôn giáo vô thần.
Quan niệm này cũng giống như nhà khoa học Laplace khi trình
bày quan niệm của ông
về vũ trụ, vua Napoléon hỏi tại sao không nói đến trời,
ông trả lời:
"Tâu Hoàng Thượng, tôi không cần giả thuyết ấy". hay
Ranakrishnan, tác giả sách Triết Học
ấn
độ xác quyết:
"đức Phật
không xây dựng đạo lý trên một nền cát lún của siêu hình học
và thần học, Ngài muốn xây dựng đạo lý trên nền tàng đá núi
của sự vật. đức
Phật là một đạo sư hơn là một vị thần thánh". (TVG, sđd,
t 241).
Thiện Chiếu đã phê bình quan niệm thượng
đế hiện hữu, toàn năng và sáng tạo vũ trụ. Trong sách Vô
Thần Luận, ông
cho rằng thượng đế chỉ là chuyện "lông rùa sừng thỏ"giả dối,
không có thực. ông
viết: "Thượng đế là ai? Cái giả danh ấy chẳng qua là bọn
đồng bóng, bọn giáo sĩ đặt ra để họ lợi dụng, sự chưởng quản
thưởng phạt cũng chỉ lạ họ chớ không có thượng đế nào cả".
ông cho chủ
nghĩa vô thần của Phật Giáo là thứ chủ nghĩa vô thần hoàn mỹ
nhất xưa nay. ông
viết: "Không phải tôn giáo đều là hữu thần. Tôn giáo có
đa thần, nhất thần, vô thần. Nhưng vô thần thì mới phải cái
nghĩa cứu cách của đạo Phật. Cho nên Phật giáo tôi gọi là
một tôn giáo vô thần, khác hẳn với các thứ tôn giáo hữu thần
khác" (Thật ra, Phật giáo là một tôn giáo siêu thần, các
thần tràn ngập trong các kinh Phật nhưng Chư Phật và Bồ Tát
siêu việt qua thần linh).
Phê bình thuyết thượng đế tạo vật, trong
cuốn Tại sao tôi cám ơn đạo Phật, xuất bản năm 1936, ông đã
so sánh thượng đế và ma quỷ là lý luận ngộ nghĩnh nhưng chí
lý như sau: "Nếu có thượng đế sáng tạo tất cả thì đối với
ma quỷ thế nào? Thượng đế có tạo ra ma quỷ không? Nếu không
phải thượng đế tạo ra ma quỷ thì cái năng lực thượng đế cũng
hữu hạn thôi, vậy thì thượng đế khác gì mấy anh thợ ở thế
gian này, có cái làm được, có cái làm không được. Ma quỷ đã
không do thượng đế tạo ra, tất phải có kẻ tạo ra nó, rất đổi
nó còn có gan có sức chống lại với thượng đế, cám dỗ người
ta đừng theo thượng đế, vậy thì cái năng lực của kẻ tạo ra
ma quỷ tất phải to lớn lắm. Biết đâu loài người và cả thượng
đế nữa không phải do "kẻ" ấy tạo ra? Còn nếu nói ma quỷ tự
nhiên có, không phải ai tạo, vậy tại sao vạn vật không được
tự nhiên có mà phải nhờ thượng đế tạo ra? Và nếu nói ma quỷ
cũng do thượng đến tạo ra thì sao ngài không bỏ ma quỷ vào
địa ngục mà chỉ dành địa ngục làm chỗ phạt những người theo
ma quỷ, vậy thì còn gì công bằng ở đâu nữa? Hay là cái quyền
lực của thượng đế vốn có sức phạt ma quỷ vào địa ngục nhưng
cố lưu chúng lại ở thế gian này quấy chúng ta chơi? Thà là
đừng có loài người, thà là đừng ai tạo ra chúng ta, tạo ra
ta để ta phải chịu đắng cay đau đớn thế này, thì kẻ tạo ra
đó là ân nhân hay chúng là kẻ thù số một? Huống chi ông trời
Thiên Chúa ghét ông trời Tin Lành, ông trời Hồi giáo giết
nhau với ông trời Bà La Môn giáo... càng làm cho ta thêm đủ
bằng cớ không tin có thượng đế chút nào hết".
Quan niệm này được Nguyễn An Ninh trong
Phê Bình Phật Giáo tán thành, cũng như được các học giả PG
đương thời như Bác sĩ Lê
đình Thám hay
thiền sư đôn
Hậu, thiền sư Khánh Hòa cũng công kích, bác bỏ thuyết thượng
đế tạo vật. Và hầu hết các tạp chí Phật Học đương thời như
Viên âm, Duy
Tâm, đuốc Tuệ
cũng đồng ý với Thiện Chiếu và đăng nhiều bài phê bình phá
hủy thượng đế và thuyết thượng toàn năng, sáng tạo vũ trụ
của Thiên Chúa Giáo cũng như của tôn giáo độc thần, nhất
thần khác. Họ cùng chủ trương vũ trụ hình thành do vô số
nhân duyên vô thủy vô chung và thượng đế chỉ là sự tưởng
tượng. Một cách ngắn gọn, báo
đuốc Tuệ tóm
lược vũ trụ quan Phật giáo: "Vũ trụ và muôn vật đều bởi
nhân duyên mà thành lập, chớ không phải do một thiên thần
sáng tạo, duy có cái nhân tốt thì thành những vật tốt, nhân
không tốt thành những vật xấu".
b/ Bác bỏ thuyết linh hồn bất tử:
Trong sách Phật Học Vấn
đáp,
ông chủ
trương không có linh hồn bất tử. Nhưng trong sách Chân Lý
Tiểu Thừa và Chân Lý
đại Thừa, ông cũng bác bỏ quan niệm cho chết rồi là
hết. Nghĩa là không có linh hồn bất tử nhưng có luân hồi.
đây là điểm
khó hiểu nhất, không những đối với Phật Tử mà còn đối với
các nhà nghiên cứu Phật Học. Ta hãy xem Thiện Chiếu giải
quyết sự oái ăm, có vẻ nghịch lý này ra sao.
ông cho rằng
cái gì cũng bị hủy hoại nếu có linh hồn bất tử, bất diệt,
hằng sống đời đời thì cũng như nói: "tôi là người, nhưng
hết thảy người ta đều phải chết, duy một mình tôi được sống
mãi mà thôi. Thật hết hết sức mâu thuẩn".
ông
nói ai chủ trương có linh hồn bất cứ thì phải đem đủ bằng
chứng ra, không được nói mập mờ, nói không bằng chứng chỉ là
sự bịa đặt, gạt gẫm người ta mà thôi. "Nếu nói trí khôn,
có hiểu biết, phân biệt là linh hồn cớ sao khi mới sinh ra
thì ngây ngây ngốc ngốc, đối với bao nhiều sự vật xung quanh
mình đều không biết, không phân biệt gì hết, mà phải chờ
nghe, thấy mà học tập lần lần? Cái trí khôn ấy cũng biến đổi
luôn, nay hiểu thế này, mai hiểu thế kia, hồi nhỏ khác, lớn
lên khác, trí khôn thủa bé không giống lúc già. Cái bằng
chứng rằng linh hồn cũng phải biết đổi như vật chất đã rõ
ràng như vậy mà con tin cái linh hồn không chết, chông chịu
vất cái ấy đi, ấy là họ không chịu dùng đến lý trí". Tạp
chí Phật Học Viên âm của Bác sĩ Lê
đình Thám
cũng khẳng định: "Linh hồn là một danh hiệu không có
trong kinh điển Phật giáo". Thiện Chiếu phê bình quan
niệm linh hồn bất tử là "thường kiến", và quan niệm
cho chết rồi là hết là "đoản kiến".
ông viết: "Tuy
không có một nhân vật hằng sống đời đời, cũng không cho chết
rồi là hết. Phật giáo ở giữa hai cái thiên kiến trường và
đoản ấy".
Thiền sư Khánh Hòa, thiền sư Bích Liên
bác bỏ linh hồn và đưa ra quan niệm A Lại Da Thức: "Trong
kinh luận gọi là nghiệp thức, thế gian gọi là linh hồn, thì
nghiệp thức hay linh hồn cũng tức là một". Thiện Chiếu
không đồng ý quan niệm cho thức là hồn, theo
ông thức là
thực, là có mà hồn là giả, hoàn toàn không có. ông ví cái
thức như ngọn đèn, còn cái thân do "tứ đại giả hợp"giống
như bình, cái tiêm, dầu hỏa, có những thứ đó thì đèn mới đỏ.
Dầu hỏa cạn, tiêm lụn, bình vỡ, thì làm gì còn ngọn đèn cháy
nữa. Quan niệm "ở giữa"của Phật Giáo, không có linh
hồn bất tử nhưng cũng không phải chết rồi là hết được Thiện
Chiếu trình bày như sau:
"Cái thức không phải từ trong thân
kiếp trước chui vào cái thân kiếp này, bỏ cái thân kiếp này
chui cái thân kiếp sau. Nó sinh ở kiếp nào thì mất ở kiếp
đó. Cũng như bóng trăng: khi múc nước đổ vào thùng thì thấy
bóng trăng trong thùng, đem nước thùng đổ vào lu thí bóng
trăng trong lu, đem nước lu đổ vào chậu thì thấy bóng trăng
trong chậu. Nó hiện ra ở đâu thì diệt ở đó, không phải cái
bóng trăng ấy từ thùng này nhảy qua lu kia, từ lu kia nhảy
qua chậu nọ. Ba cái bóng trăng đó tuy không phải là một,
cũng không phải là khác. Cái thức trong ba kiếp ấy cũng vậy,
không phải là một mà không phải là khác." (TVG, sđd, t
246-264).
Ai cũng biết Phật giáo chủ trương có luân
hồi là vì nghiệp lực, nghiệp lực tạo ra tái sinh như một bó
lửa này được mồi qua một ngọn đuốc kia, hay như trá billard
này bị đẩy tới va chạm và đưa trái billard kia đi tới. Thiện
Chiếu không tin có linh hồn bất tử nhảy từ thân xác này qua
thân xác khác, cũng không tin có a lại da thức chuyển từ
kiếp sống này qua kiếp sống khác.
ông, như quan
niệm Phật Giáo kinh điển, cho rằng nghiệp của các đời sống
trong quá khứ tạo ra sự tái sanh trong hiện tại và nghiệp
của cuộc sống hiện tại sẽ quyết định cảnh giới tái sanh của
kiếp sau và các kiếp sống này không phải là một và cũng
không phải là khác. Mỗi kiếp sống có sự độc lập, riêng biệt
của nó nhưng đồng thời cùng bị chi phối bởi một nghiệp lực
duy nhất.
c/ Bác bỏ quan niệm thiên đàng, niết bàn:
Thiện Chiếu cho rằng niết bàn, Tây Phương cực lạc đều không
phải là cảnh có thực, đó chỉ là sự an lạc trong tâm của
chúng ta và địa ngục chỉ là cảnh giới đau khổ của tâm thức.
Tâm là Phật. Phật là Tâm, mà Tâm cũng là ma quỷ, địa ngục.
Cho nên ông
không tin việc niệm Phật, cầu Phật hay làm lành lánh dữ mà
được Phật rước về nước Tịnh độ, Tây Phương cực lạc hay được
Phật ban cho điều này điều kia.
ông viết: "Cái
thuyết thưởng phạt của tôn giáo cho rằng ai làm lành thì sau
khi chết được lên thiên đàng, còn làm dữ thì chết rồi phải
sa địa ngục. Thiên đàng và địa ngục thật ra chỉ là cái tên
của cánh vui và cảnh khổ. Nếu đời hiện tại mà không bằng cớ
gì làm cho ta biết được, phải đợi đến khi chết, thì chẳng mơ
hồ hay sao? Phật giáo thì nói rằng: lòng mê muội thì khổ, ấy
kêu là chúng sinh, lòng sáng suốt thì vui, ấy kêu là Phật.
Há đợi thiên đàng mới vui, địa ngục mới khổ hay sao? ".
Tạp chí Viên âm
cũng đồng ý niết bàn, địa ngục đều là những cảnh giới do
nghiệp lực biểu hiện, nghiệp lành sinh ra cảnh giới hoan hỉ,
an lạc, nghiệp dữ thì hiện ra cảnh giới đau khổ. "Niết
bàn tóm lại không ngoài ba nghĩa: nghĩa bất sinh, nghĩa giải
thoát, nghĩa tịch diệt. Bất sinh nghĩa là không sinh những
điều mê lầm nữa. Giải thoát nghĩa là không ràng buộc nữa.
Tịch diệt nghĩa là dứt sạch tất cả các nguồn mê lầm".
Như thế rõ ràng niết bàn không phải là một cảnh giới nào
ngoài thế gian này, ngoài cái tâm của ta.
d/ Thuyết vô ngã:
Vấn đề hữu ngã hay vô ngã được Thiện Chiếu trình bày khá
giản dị như sau: "Theo kẻ phàm tục và ngoại đạo đều tưởng
trong thân mình riêng có một vật linh thiêng không chết, chủ
tể và chỉ huy cho thân xác, họ kêu là linh hồn.
ấy là thuyết
hữu ngã. Trái lại Phật giáo bảo rằng chẳng những loài người
mà cho đến hết thảy vạn vật đều do nhân duyên giả hợp mà có,
không thể "có một" mà sinh thành được, cũng không hằng còn
mãi mãi nếu nhân duyên tan rã. ấy là thuyết vô ngã. Muốn
hiểu thuyết vô ngã thì phãi rõ thuyết nhân duyên, mọi vật
phải có nhân và có duyên với thành vật, ví như thực vật thì
hạt giống là nhân, còn đất, nước, khí trời, ánh sáng là
duyên. Có cả hai thứ nhân và duyên thì mới nứt mộng, mọc lá,
mọc rễ, thành cộng, đơm bông, ra trái. ấy là nhân duyên giả
hợp. Trí thức của người cũng thế, đều do sáu căn và sáu
trần, sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; sáu trần là
hình, sắc, tiếng, hương, mùi, vật. ấy là nhân duyên giả hợp".
Không những trình bày khá trung thực và
bảo vệ một cách nhiệt tình những nhận thức đứng đắn của đạo
Phật, Thiện Chiếu còn đi xa hơn hầu hết tăng, ni, Phật tử
thời đó cũng như thời nay để phê bình mạnh bạo vào chính một
số quan điểm trong đạo Phật mà ông thấy không đồng ý, nhất
là khi ông đối chiếu những quan điểm này với xã hội đương
thời. Sự độc lập, và độc đáo, về tư tưởng của
ông rất hiếm
có.
ông
tuyên bố với những người đang bút chiến với
ông, như ông
Liên Tôn, chủ bút Từ Bi âm: "Nếu
ông nói có
lý, thì ông
nói tôi cũng tin, còn nói vô lý thì dầu Phật Thích Ca còn
sống đi nữa, nói tôi cũng không tin".
Thật rất đúng tinh thần tôn trọng trí tuệ
và khai phóng, phá chấp của đạo Phật.
ông đúng là
một nhà khoa học nghiên cứu Phật học hơn là một tăng sĩ, tín
đồ Phật giáo. Nhà Phật học và cũng là nhà cách mạng Phan Văn
Hùm, trong bài Dịch Sách Phật, đăng trên báo Công Luận năm
1931, đã hết sức khen ngợi tinh thần hoài nghi và cả tinh
thần phá hoại cần thiết cho sự nghiên cứu đạo Phật nhằm "trùng
hưng Phật Pháp, tu lý đạo Phật" cho nên ở ngay "trong
cửa Thiền, Thiện Chiếu thoát được bọn ma vương". (TVG,
sđd, t 266-267).
Tuy nhiên sau khi Thiện Chiếu thoát luôn
cả cửa Thiền, đi làm cách mạng thì nhà nghiêncứu và nhà ái
quốc Huỳnh Thúc Kháng, chủ bút báo Tiếng Dân cũng như nhiều
người khác rất ngạc nhiên vì thầy Thiện Chiếu "20 năm ăn nằm
trong Phật Giáo", đã nhiệt liệt bênh vực Phật Giáo, hăng hái
cỗ võ đổi mới Phật Giáo, thế mà nay lại "cám ơn" đạo Phật và
công kích một số tư tưởng rất căn bản của Phật Giáo.
Trong quyển "Tại sao tôi cám ơn đạo Phật?
" Thiện Chiếu đã tâm sự chân thành sự chuyển hướng tư tưởng
của mình, ông viết: "đánh đâu thua đó mà không chịu đổi
chiến lược thì ta biết là nhà cầm binh thất sách, cũng trái
hẳn cái mục đích hoặc chiếm cứ lãnh thổ kẻ khác, hoặc giữ
gìn đất nước của mình. Thay đổi phương châm, thay đổi cách
hành động, hoặc thay đổi luôn học thuyết, cũng như bỏ hẳn
đạo Phật, theo cái chủ thuyết khác mặc dầu, miễn đạt được
cái mục đích "chúng sinh hết khổ", ấy mới phải là người học
Phật, nghĩa là không trái với tôn chỉ của Thích Ca Mâu Ni".
( TVG, sđ, t 287).
Thật là táo bạo. Nhưng cũng thật là đúng
tinh thần Phật Giáo, bỏ luôn cả đạo Phật, bỏ luôn cả
đức Phật,
miễn làm sao thực hiện được lý tưởng làm cho mọi người hết
khổ là được. Phật giáo nên tự hào vì đã có những Phật tử như
Thiện Chiếu: tự do không giới hạn trong suy nghĩ, phê
bình, sáng tạo, tự do thênh thang vô tận trong hành động, tự
do tuyệt đối trong cuộc đời. Những người theo chủ thuyết
Mác Lê hiện nay tại Việt Nam nên học tập, bắt chước tinh
thần khai phóng, phá chấp và tự do này của sư Thiện Chiếu:
miễn làm sao dân chúng được no ấm, hạnh phúc, đất nước giàu
mạnh, hưng thịnh là được, chủ nghĩa nào trái với lý tưởng
này thì nên thẳng tay bỏ ngay, phương cách nào giúp cho lý
tưởng này mau thành tựu thì nên mạnh dạn áp dụng liền, chớt
dứt khoát không nô lệ cho giáo điều, chủ nghĩa và ý thức hệ.
Nguyên nhân nào Thiện Chiếu "cám ơn" đạo
phật?. ông
trần tình chí thành như sau: "trong mấy năm trường, dẫu
gặp phải cái trở lực về chính trị, về kinh tế, vì sự vu cáo,
sự phá hoại của bọn Phật giáo cải lương hay của phái nghịch
đi nữa, cũng không đến nổi ngã lòng. Huống chi, về mặt lý
thuyết, đã thấy có phần thắng lợi, cũng có một số người giác
ngộ theo ủng hộ và tán thành, không nổi quạnh hiu cho lắm.
đất có người cho, tiền có người quyên để giảng đường, làm
nơi căn cứ cho khỏi bị xua lên đuổi xuống vì ở đậu bạc mấy
chỗ "quyền sở hữu" của những kẻ ý kiến bất đồng. Nhưng xin
đa tạ. Bây giờ đối với chương trình quyết định trước kia, đã
lãnh đạm đi rồi. Kinh làm biếng xem, đầu hết muốn cạo. Bởi
thấy kinh tế càng bị khủng hoảng nặng nề, người ta càng lầm
than, càng đói khổ, do nguyên nhân gì gây ra? lấy phương
pháp nào cứu chữa? Chớ Phật giáo đã không phải là phương
thuốc cứu chữa duy nhất nữa rồi. Phải, muốn cho hết thảy
chúng sinh được hết vọng tâm, được sáng suốt, được niết bàn
và thành Phật như Phật Thích Ca sau khi bỏ cảnh tu nhịn đó,
đã vô ích mà có hại nữa kia. Huống chi cái thuyết vô ngã của
nhà Phật có hay cho mấy đi nữa, không thể nói suông mà phá
được thần quyền mê tín là bức tường bảo hộ của cái chế độ
(Thực Dân) hiện tại này. đứng đó không vững, đi tới chưa
biết đi đường nào..." (TVG t 287).
Phần kết cuốn Tại Sao Tôi Cám ơn đạo
Phật?, Thiện Chiếu diễn tả tâm trạng của
ông: "Bao
nhiêu giáo nghĩa của Phật từ căn bản đến luận lý đều rung
rinh hết, khác nào như một nhà lầu ở đông Kinh hồi địa chấn,
người trong đó giựt mình, hoảng hốt, lật đật trỗi dậy, dầu
có hết sức lưu luyến cái chỗ nương tựa lâu nay đi nữa, cũng
phảo lo tìm đường thoát thân. đi đâu? Chắc thế nào cũng phải
đi về con đường nào đó thuận tiện cho mình, và nhất là phải
bị lôi cuốn vào đám đông hết sức đông đảo đương rầm rộ, nhịp
nhàng, có kỷ luật và trật tự". (TVG, t 288-289).
Thời đó phong trào cách mạng cứu quốc
đang dấy động lên khắp nơi, đặc biệt là các phong trào tranh
đấu chống Pháp, có chủ thuyết, có lý luận, có tổ chức, có kỹ
luật, và "có đám đông hết sức đông đảo đương đi rầm rộ, nhịp
nhàng" trong những cuộc khởi nghĩa, biểu tình, do
đảng Cộng Sản
đông Dương bí
mật lãnh đạo. Khác với Lý
đông A, dấn
thân hoạt động cách mạng nhưng vẫn quyết giữ đạo Phật và lý
tưởng giải thoát, giác ngộ: "ngày nào làm tròn giấc mộng
tiền sinh ấy, vào đến non sâu nhập niết bàn", hay Huỳnh
Phú Sổ "Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha, đền xong nợ
nước thù nhà, Thiền môn trở gót Phật
đà Nam Mô"
và vô số tăng, ni, Phật tử yêu nước khác đã tham gia các
hoạt động đấu tranh, kháng chiến chống giặc Pháp mà vẫn giữ
tư cách tín đồ Phật giáo của mình.
1/ Mâu
thuẩn của Niết Bàn:
ông cho "hết
thảy chúng sinh trên thế gian này... cho đến cáo bọn có
tiếng là Phật học cao thâm đi nữa, tôi dám chắc không một ai
là được thành Phật, không một ai là được Niết Bàn", vì
không có ai có thể "dứt hết các vọng tâm". đi xa hơn,
ông trình bày
những lo âu, đau khổ của con người trong xã hội và nói: "ở
cái chế độ tư hữu mà nói "Niết bàn" được, thật là láo dóc.
Còn đến khi xã hội cải tạo rồi thì cần gì có Niết bàn nữa"
(TVG, t 290). Thật đã quá rõ,
ông, một
người tha thiết với lý tưởng cứu khổ, cứu dân tộc, cứu chúng
sinh, đã mê hoặc bởi chủ thuyết xã hội, hay đúng hơn, chủ
nghĩa Mác Xít và dùng lý luận của chủ thuyết này để đả kích
lại Phật Giáo. Thời đó,Thiền Tông hầu như tuyệt tích nên
Thiện Chiếu không biết cách nào để "an tâm" và
không tin có người đã "dứt hết các vọng tâm". Thực
chất chế độ xã hội chủ nghĩa hay chế độ tư bản chỉ đóng
khung hạn hẹp trong việc giải quyết các vấn đề sở hữu các
phương tiện sản xuất, tương quan sản xuất, sự phân phối sản
phẩm, tài nguyên, nhân lực hay các mô thức tổ chức chính
trị, xã hội. Vấn đề đau khổ của con người liên quan không
những đến xã hội, đời sống chính trị, kinh tế của con người
mà chính yếu liên quan đến dục vọng, tham lam và cách nhận
thức sai lầm, lệch lạc của con người. Những phê bình trên
đây của Thiện Chiếu cũng giống như giơ gậy mà đòi đập trời.
Cái gậy ý thức hệ Mác Xít chưa vươn tới bầu trời tâm linh
thì làm sao có thể giải quyết vấn để giải phóng con người, ở
mức độ sâu thẳm và cao siêu nhất mà đức Phật đã chứng nghiệm
và giảng dạy tư 25 thế kỷ trước?
2/ Mâu thuẩn
nhân quả:
đây là nền
tảng của Phật giáo thì Thiện Chiếu phê bình nhân quả Phật
giáo "tuy có cao hơn cái thuyết hữu ngã luân hồi của Bà
La Môn giáo mặc dầu, nhưng cũng trái hẳn với luật nhân quả
của khoa học" và cũng không tránh khỏi thần bí vì phải chờ ở
luân hồi kiếp sau. ông cho thuyết nhân quả có vẻ công bằng
hơn thuyết thưởng phạt (thiên đàng, địa của Thiên Chúa giáo)
nhưng bản thân nó mâu thuẩn lắm.
ông
đưa ra một ví dụ sống động: "thuyết nhân quả nói kiếp trước
không bố thí nên kiếp này phải chịu cảnh bần cùng, còn người
giàu bây giờ là nhờ kiếp trước có bố thí rộng rãi. Nếu như
vậy, bây giờ đã chịu thân bần cùng, bữa đói bữa no, lấy cái
gì mà bố thí? Làm sao mà rộng rãi được? Có khi bị hoàn cảnh,
bị cái đói lạnh xúi dục, họ sinh ra trộm cắp nữa. Theo
thuyết nhân quả, chẳng những kiếp sau phải chịu bần cùng hơn
nữa, còn phải sinh vào cảnh khổ (địa ngục) hoặc làm súc vật
để đền tội trước kia: một ngày một xuống, không trồi đầu lên
được, ấy không phải vĩnh kiếp ở địa ngục là gì? Trái lại,
giàu có mới có tiền của bố thí, bố thí có mua vui họ còn bố
thí hơn nữa. ở cái địa vị cao sang dư dã thì dại gì ăn cướp
ban đêm? Càng ngày càng lên, ấy không phải vĩnh kiếp ở thiên
đàng là gì? Thế thì cái thuyết nhân quả nó rộng rãi với hạng
người giàu có, mại gắt gao với hạng người nghèo khổ thái
quá".
đúng
là lý luận Thích Thiện Chiếu, có vẻ chí lý nhưng muốn đánh
đổ thì không khó gì. Thiện Chiếu cũng chứng minh thuyết nhân
quả cũng sai lầm trong việc thông thái, ngu si: "con cái
bọn mọi trong rừng rú, ai dám bảo nó lớn lên sẽ được văn
minh, thông thái? Con của các nhà tư bản Ấu Mỹ ai dám bảo
chúng nó lớn lên sẽ ngu muội dã man? Nhưng đổi lại, khi mới
đẻ ra, con của nhà tư bản đem cho mọi và con của mọi đem cho
nhà tư bản họ nuôi thử coi, thì sẽ thấy một bên vì hoàn
cảnh, vì sự giáo dục, vì điều kiện vật chất được hoàn toàn
đầy đủ, ai còn dám bảo đứa con mọi ấy (do nhà tư bản nuôi)
là dã man nữa. Trái lại, một bên vì sự sinh hoạt đơn sơ,
không có giáo dục, thiếu hẳn điều kiện vật chất, cái hoàn
cảnh ấy có thể nào tạo được đứa con tư bản kia (do mọi nuôi)
trở nên một kẻ văn minh?" (TVG, t 289-301).
Trường hợp ví dụ này quá sức đúng, nhưng
việc một đứa con đẻ trong rừng mà được nhà tư bản nuôi thì
cái đó 100% là do nhân duyên, nghiệp lực mà thành cũng như
đứa trẻ sinh ở cao sang mà lại bị lạc vào rừng rú thì không
phải là "số mạng", định mệnh", "thượng đế
an bài", hay "ngẫu nhiên", "tình cờ", mà
chính là do thuyết nhân quả chi phối, quyết định vậy. Cũng
như việc một người sinh ở nơi văn minh, giàu sang hay sinh
trong hoàn cảnh tối tăm, nghèo khổ là do nghiệp lực và nhân
duyên nhiều đời trước quyết định. Cũng như người được trúng
số hay gặp thời trở nên giàu có, nguyên nhân nằm trong sự
thiện nghiệp, thiện duyên mà họ đã tạo ra từ các kiếp trước.
Còn việc bố thí, Phật giáo liệt kê Pháp
thí (ban tặng Phật pháp) là đứng đầu, thứ đến là Vô úy thí
(ban tặng sự không sợ hãi), chót hết mới là Tài thí (ban
tặng tiền bạc, của cải). Cũng theo đó, phước đức tăng trưởng
nhiều hay ít và đời sau được sinh làm người giàu sang hay
nghèo hèn. Trong việc Pháp thí và Vô úy thí, bao gồm việc
nói, khuyên người khác bỏ ác, làm lành, ăn ở hiền đức, sinh
sống thật thà, lương thiệ, an ủi, khích lệ nâng đỡ người
khác khi họ bị đau khổ, thất vọng, hay cứu mạng người hay
mạng sống của các loài chúng sanh khác v.v... thì ai có từ
tâm cũng đều làm được, chớ không phải chỉ người giàu có mới
làm được.
Hơn nữa việc bố thí chỉ có một phần công
đức phụ thuộc mà thôi. Cái nguyên nhân chính yếu, tạo ra
thiện nghiệp hay ác nghiệp, đưa đến cảnh con người bị nghèo
hèn hay được sang quý cũng như sanh ở sáu cõi là họ giữ ngũ
giới và thực hành thập thiện hay không? Không phải có tiền
bố thí, hay ngay cả xây chùa, đúc tượng mà có phước và được
tái sinh làm người giàu sang hơn.
Lương Võ
đế đã xây
hàng trăm ngôi chùa, đúc hàng ngàn tượng Phật, thế mà khi
Vua hỏi: "Trẫm có công đức gì không? thì Bồ đề đạt Ma đã trả
lời dứt khoát: "Không có công đức gì cả". Trong khi
đó một người cứu một người khác sắp chết đói, chết rét hay
ngay cả cứu một con kiến đang sắp chết đuối cũng có thể có
công đức rất lớn. Lấy vấn đề tiền bạc để làm tiêu chuẩn duy
nhất cho việc phê phán quan điểm nhân duyên tội phước của
đạo Phật thì nó quá hạn hẹp, phiến diện và không chính xác.
đi
xa hơn, quyết liệt hơn, Thiện Chiếu lý luận: "cho đến tuần
lễ 40 giờ và bọn Chà Và chợ phải nhượng bộ, ấy là bởi nhân
quả, phải chờ kiếp sau, hay là bởi đấu tranh hện tại của
nhân dân mà được những thắng lợi ấy" (TVG, sđđ, t 300-3001.
Việc này thì hoàn toàn đúng và chính đức
Phật cũng đã giảng dạy nổ lức phấn đấu để chuyển hóa nghịch
cảnh và xây dựng một xã hội hiền lương, nhân đạo và công
bằng, chớ đức Phật không dạy cầu nguyện lễ bái hay thụ động,
khiếp nhược chấp nhận bất công, áp bức.
Thời đó, một chủ thuyệt xã hội Phật giáo
chưa có, cũng như chưa có một quan niệm hành động xã hội
chính trị của người Phật Tử nên nói đến công xã hội, Thiện
Chiếu không khỏi rơi ngay vào lý thuyết đấu tranh giai cấp
và cuối cùng còn cực đoạn cho rằng dù là Phật Giáo được chấn
hưng, cũng hoàn toàn đưa đến bế tắc mâu thuẩn và không thể
cứu khổ"" , giải thoát được. Báo phụ nữ Tân Văn, năm 1843,
đã kết luận về tăng sĩ Thiện Chiếu một cách đặc biệt như
sau.
"Sư Thiện Chiếu là một người ở về hạng
thành thật nhất, bỏoli vậy cho nen sư đáng cho ta để sy thập
nhất, bởi vậy cho nên sư dáng cho ta để ý. Trong các giáo
chủ của cuộc vậng động tôn giáo ngày nay, sư là một người có
lý tưởng, có chủ nghĩa, có nhiệt thành. Mà sư lại đứng tr
hẳn một cánh để phản đối tất cả chi phái khác. Sư mê Phật
học mà sư xướng rằng không có thần, không có Ngọc Hoàng
Thượng đế, không có chủ tể càn khôn. Sư phản đối kịch liệt
cho đến nổi nói tới hai chữ Thiện Chiếu thì bọn tang lữ đời
nay đều khủng khiếp.
Người ta ghét mà sợ con người có tín
ngưỡng thật. Vì đời của sư không có chỗ nào sàm báng được.
Ngày nay sư Thiện Chiếu đã tỉnh ngộ và giác ngộ. Nhờ quan
sát nhiều, nhờ suy nghĩ lắm, nhờ thảo luận cùng anh em mà sư
tỉnhgiấc ngủi thôi từ hon 20 năm nay. Khác có kẻ hỏi: vậy
thì sư mong giải khổ cho quần sanh về chỗ nào? Sư nhận ra
rằng cuộc đấu tranh để giải khổ là cuộc đấu tranh trong xã
hội, giải khổ trên mặt đất, chớ kông khong phải kiếp tái
sinh hão huyền nào hết. Trong hàng trí thực An Nam và tất
cả hão huyền nào hết . Trong hàng trí thức An Nam và tất cả
A đông, ta ít
khi gặp được người thành thật và can đảm như thiện Chiếu".
TVG, sđd, t 282-291>
Phê bình này không đi ra ngoài tinh thần
Phật giáo đại thừa, là tôn giáo duy nhất trên thế giới này
chủ trương có thể xây dựng một cõi Tịnh độ, không còn cảnh
bất công, đói rách, đau khổ, một thiên đàng an lạc, đạo đức,
hòa bình, ngay tại thế gian này. Tiếc rằng thời đó tinh hoa
của Phật tiáo đại thừa bị mai một nên Thiện Chiếu không thấy
những quan niệm cứu khổ ngay trong cuộc đời, giải thoát ngay
trong thế gian, xây dựng Phật quốc ngay trong cõi Ta Bà của
tư tưởng Phật giáo đại thừa hùng tráng, dũng hoạt và hết sức
thực tế, cụ thể.
Thật là đáng tiếc, một con người như
Thiện Chiếu đáng lý ra nên vận dụng căn bản Phật học và cả
uy tín, kinh nghiệm, nhiệt tâm tranh đấu của mình để hình
thành một chủ thuyết xã hội Phật Giáo và một trào chính trị
Phật Giáo, như Huỳnh Phú Sổ đã làm chỉ vài năm sau đó, một
cách xuất sắc, tuyệt vời qua việc hình thành Phật Giáo Hòa
Hảo và Việt Nam Dân Chủ Xã Hội đảng, ông đã ngã vào con
đường hành động xã hội của chủ nghĩa Mác Xít và của đảng
Cộng Sản mà hậu quả tan thương, đau đớn chính ông đã cảm
nhận sâu xa trong những ngày tháng tù túng tại Bắc Kinh, Hà
Nội cũng nhữ đồng bào ông đã gánh chịu suốt nửa thế kỷ nay.
Cùng thời với Thiện Chiếu cũng có những
quan niệm cấp tiến, mạnh bạo tương tự thể hiện trong Hội
Phật Học Kiêm Tế và tạp chí Tiến Hóa cũng như trong Hội Tịnh
độ Cư Sĩ và tạp chí Pháp âm. Tạp chí Tiến Hóa, như đã nói,
tuyên bố "tuyên truyền cho bất cứ học thuyết nào có đủ
phương pháp làm cho chúng sinh khỏi khổ được vui" và coi các
học thuyết này đều là "Phật pháp". Ngay từ số 1, đã có mục
"triết học thường thức" và đến số 4, ký giả Trần Quân trình
bày Duy Vật Biện Chứng Pháp và từ số 6, ông phê bình các chủ
thuyết Duy Tâm Luận. Tạp chí Tiến Hóa chủ trương táo bạo như
sau:
"a/ Người Phật tử mới phải có sự
giác ngộ mới do khoa học khám phá. Người Phật tử phải học
khoa học để biết rằng không có Tây Phương Cực Lạc hay Thiên
đàng, địa ngục, phải học kinh tế học, chính trị học để biết
những đau khổ của con người là do các chế độ chính trị đè
nén và những cuộc khủng hoảng kinh tế, chớ không phải do
thần linh ban họa giáng phúc.
b/ Phật
Thích Ca chỉ là bậc sáng suốt hoàn toàn trong thời đại của
Ngài mà thôi. Bây giờ phải nắm hết những hiểu biết của khoa
học thì mới gọi là "Phật"... vì trí thức của Phật hồi thời
đại ấy không bằng tri thức của toàn thể nhân loại sau này.".
c/
đường lối cải
tạo cái tâm trước không có hiệu quả. Phải cải tạo cảnh. Phải
tổ chức trường học cho người dốt nát, nghèo khổ, phải ngăn
cấm không cho một thiểu số nắm giữ và lũng đoạn guồng máy
kinh tế, phải thủ tiêu chế độ tư hữu. Họ còn mơ giấc mơ đại
đồng: "đừng chia riêng của người này với của người khác,
nước nọ với nước kia, thì đâu có cái hiện tượng tranh dành
cướp giật và bắn giết lẫn nhau? ấy là cái nghĩa nhất thiết
chúng sanh thành Phật". (NL, sđd, t 66-67).
Tác giả Nguyễn Lang cho rằng "gốc rễ
Phật học của các lý thuyết gia Tiến hóa (trong đó đương
nhiên có Thiện Chiếu) là chưa sâu vững". Không những thế
còn kém cõi về kiến thức khoa học. Theo kinh Phật, thì cõi
Tây Phương Cực Lạc cách đây vô lượng vô số thế giới, ngay cả
thiên văn họa hiện đại cũng chỉ mới khám phá một gốc trời
nhỏ của vũ trụ quan Phật giáo. Hay cho rằng "Sự hiểu biết
của Phật không bằng trí thức bây giờ". Nói như thế trong
thập niên 30, 40 thì được, chớ ngày nay sau khi đã nuốt
chửng triết học và thần học Tây Phương thì khoa học đã tự
bộc lộ những giới hạn và sự bất lực của nó, khoa học vẫn ở
trong bàn tay của Phật học, đúng như Albert Einstein, nhà
bác học vĩ đại nhất của thế kỷ 20 đã tuyên bố: "Phật giáo
bắt đầu ở nơi khoa học chấm dứt" (Buddism begins where
Science ends) nghĩa là sau khoa học chính là Phật giáo. Mặt
khác, quan niệm cải tạo tâm và cải tạo cảnh đều được bao gồm
trong Phật giáo đại thừa, cụ thể như vấn đề tư hữu, Phật
giáo chủ trương diệt trừ tam độc tham, sân, si nguồn gốc của
tội lỗi và đau khổ, nhưng đồng thời cũng chủ trương bênh vực
giới lao động, nâng đỡ những kẻ yếu nghèo, xây dựng một xã
hội công bằng và nhân đạo.
Trong chiều hướng chấn hưng Phật giáo một
cách táo bạo, triệt để và toàn diện, ký giả Giác Tha còn hô
hào "thủ tiêu hình thức và tinh thần tôn giáo của Phật
Giáo", "hủy bỏ tất cả những kinh sách và những tập quán
có khuynh hướng hữu thần và yếm thế". Không những thế Tiến
Hóa còn chủ trương hủy bỏ truyền thống tăng sĩ "đầu trọc
áo vuông", theo gương phái tân tăng ở Nhật Bản mặc âu
phục, cưới vợ và ăn mặn. Ký giả Tự Giác, sau khi gặp tân
tăng trẻ Nhật Bản Tomomatsu tại Sài Gòn, ông này bặt thiệp,
nói nhiều thứ tiếng, hiểu biết rộng rãi, tuyên bố những tư
tưởng mới lạ, đã hô hào: "từ rày về sau, người tu Phật nên
bỏ hẳn cáo lối đầu trọc áo vuông, theo gương các sư Nhật...
nhưng ai có muốn ăn chay hay độc thân thì tùy ý (NL, sđd, t
68).
Pháp âm ủng hộ lập trường Thiện Chiếu và
của Tiến Hóa và bắt đầu chỉ trích đường lối chấn hưng Phật
giáo, của các hội Phật học đương thời, như phê bình các hội
này chỉ chú trọng tinh thần mà bỏ quên thực tế, chỉ biết
nghĩ về vị lại mà bỏ quên hiện tại, chỉ nói suông mà không
thực hành. Họ kêu gọi chấn hưng Phật giáo là để "gây
thành một thế lực mà ứng phó với thời cơ". Rõ ràng là
kêu gọi chuẩn bị hành động, chuận đóng góp vào cuộc tranh
đấu cứu nước, giải phóng dân tộc. đi xa hơn nữa Pháp âm và
Hội Tịnh độ Cư Sĩ còn: "hết sức ủng hộ việc bỏ cái lối
đầu trọc áo vuông" mà tạp chí Tiến Hóa đã đề nghị. Pháp
âm còn kêu gọi "thủ tiêu cái chế độ riêng"trong nhà chùa,
kêu gọi chư tăng theo gương hòa thượng Nguyễn Văn
đồng (Trí
Thiền) trú trì chùa Tam Bảo cúng hết chùa và tài sản cho Hội
Phật Học Kiêm Tế. Và có người còn đi xa hơn nữa, đề nghị
phục hưng Phật giáo trong tinh thần xã hội chủ nghĩa. Phạm
đình Vinh,
diễn thuyết tại trụ sở hội An Nam Phật Học tại Huế ngày
15-08-1937 về đề tài Luân Lý Phật Giáo, đã minh bạch tuyên
bố:
"Luân lý, cũng như nghệ thuật, triết
học, pháp luật, tư tưởng, văn tự, ngôn ngữ... đều là ý thức
hình thái (ý thức hệ) của xã hội mà ta thường gọi là tinh
thần văn hóa, được kiến thiết ở trên nền tảng kinh tế. Nếu
kinh tế thay đổi thì ý thức hình thái (ý thức hệ) của xã hội
tức là nghệ thuật, triết học, pháp luật, tư tưởng, văn tự,
ngôn ngữ... hay tinh thần văn hóa cũng phải thay đổi
theo hết. Theo ý tôi thì chỉ có hai cách. Một là muốn cho xã
hội tín ngưỡng và thực hành luân lý đạo Phật thì phải làm
cho công bình, đừng cho ai lợi dụng. Hai là phải vận động
khắp thế giới thủ tiêu các chế độ tài sản tư hữu... mới thực
hiện được tinh thần vô ngã của đạo Phật". Và ông cho
rằng cách thứ hai là hữu hiệu hơn hết. (NL, sđd, t 64-69).
Thực tế đã chứng minh là những phương
pháp đi nhanh nhất thường là đi chậm nhất, đôi khi lại thụt
lùi, và cấp tiến nhất thường đưa đến những kết quả bảo thủ,
thoái hóa tai hại nhất.
Những tư tưởng cấp tiến, tả khuynh thời
đó nở rộ như nấm và lạ lùng hơn nữa là khởi phát mạnh mẽ ở
miền Nam, nơi đảng Cộng Sản rất yếu. ở miền Trung Hội an Nam
Phật Học và tại Chí Viên âm hay ở miền Bắc, Bắc Kỳ Phật Giáo
Hội và tạp chí đuốc Tuệ đều có một quan điểm chấn hưng Phật
giáo rất ôn hòa, nhẹ nhàng, đặt nặng vấn đề Phật học, đào
tào tăng tài hơnl à những vấn đề thời sự, chính trị, xã hội,
kinh tế, dù rằng cả hải Hội Phật Học và hai tạp chí Phật Học
này đều cổ xúy một nền Phật giáo dân gian, nhập thế, đi vào
đời, áp dụng vào cuộc sống.
Quyển Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, do Việt
Triết Học tại Hà Nội chủ biên, trong phần kết luận, đã xử
dụng trường hợp Thiện Chiếu để chứng minh PHật Giáo không
đáp ứng được thời đại, và chủ nghĩa Mác Lê là cấp tiến hơn,
thích hợp hơn cho Việt Nam. Lập luận này ngày nay đã tự sụp
đổ nên ta khỏi cần tranh luận. Nhưng, như một số nhà nghiên
cứu Phật Giáo trong nước đã phê bình, dùng một chủ thuyết
khác để đã kích Phật Giáo trong một cuốn sử mang tên Lịch Sử
Phật Giáo Việt Nam, rõ ràng là việc làm không có tính cách
sử học.
Mặc khác, tăng, ni Việt Nam thời đó cũng
có trên cả chục ngàn và tuyệt đại đa số vẫn trung thành,
sống chết cùng với đạo Phật và đã tích cực đóng góp vào sự
nghiệp cứu quốc, phụng sự quốc gia, xã hội mà vẫn không từ
bỏ con người tôn giáo của mình, còn số người như Thiện Chiếu
chưa 1/1000 thì không thể thấy trường hợp quá đặc biệt và
ngoại lệ này để công kích Phật Giáo.
Thứ ba là Thiện
Chiếu đã phản tỉnh khi ông miền Bắc, chứng kiến bộ mặt thật
của xã hội chủ nghĩa và cảnh Phật Giáo bị đàn áp khốc liệt,
nên lợi dụng cuộc đời yêu nước nồng nhiệt, hăng say của ông
để tấn công Phật Giáo là điều không lương thiện. Những gì
tăng sĩ Thiện Chiếu mong ước và đã thất bại không thực hiện
nổi, là một nền Phật Giáo dân tộc và thời đại, một nền Phật
Giáo hành động cứu quốc và cách mạng xã hội, chỉ vài năm
sau, năm 1939, đã được một cư sĩ, là Huỳnh Phú Sổ, thực hiện
một cách tuyệt diệu và thành tựu một cách tuyệt vời.