Chương Mười:
Thi Kệ Của Huỳnh Phú
Sổ.
Nói đến thi kệ bằng tiếng Việt, nhiều người
liên tưởng ngay đến những thi kệ tuyệt tác do thiền sư Nhất
Hạnh sáng tác hay chuyển ngữ. Nhưng có điều ít ai biết là Bồ
Tát Huỳnh Phú Sổ là người Việt Nam đầu tiên đã viết thi kệ
bằng quốc ngữ, nghĩa là bằng tiếng Việt.
Cho đến cuối thập niên 30, hầu như tất cả
các thiền sư Việt Nam đều làm thi kệ bằng tiếng Hán. Huỳnh Phú
Sổ là người đã dịch rất nhiều bài thi kệ bằng tiếng Hán ra
tiếng Việt và dịch, thật sự là sáng tạo, một cách tuyệt vời,
không thua gì những thi kệ của Nhất Hạnh. Chỉ khác là Huỳnh
Phú Sổ đã sáng tác các thi kệ bằng tiếng Việt Nam trước Nhất
Hạnh 30 năm, 40 năm. Sau đây, ta hãy thưởng thức những thi kệ
của Huỳnh Phú Sổ viết năm 1942, khi ông chỉ mới 22 tuổi, trích
từ tập Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ, từ trang 401 đến trang 411,
trong phần, ít ai chú ý, nhan đề Những Câu Chú Thường Niệm:
"Những
câu chú thường niệm
Thấy trong quyển Tăng
đồ Nhà Phật có
chép những câu chú mà xưa kia các vị tì kheo và tì kheo ni
thường đọc trong những công chuyện thường ngày,
đức Thầy lúc
còn ở Bạc Liêu, bèn dịch mấy câu chú nầy bằng lối thơ vần.
Dưới đây là những câu chú bằng Hán văn
và Phạn văn, kế đó là những bài của đức Thầy dịch lại".
Trên đây là lời giới thiệu từ cuốn Sấm
Giảng Thi Văn Toàn Tập, trước khi thưởng thức toàn bộ các thi
kệ nhật dụng này, ta thử thưởng thức một bài khá nổi tiếng, đã
được đưa vào nghi thức tụng niệm của Phật giáo Việt Nam, bài
này tóm gọn tinh hoa tuyệt đỉnh của tư tưởng Phật giáo, được
trình bày trong bộ kinh tinh hoa tuyệt đỉnh là bộ kinh Hoa
Nghiêm:
"Năng lễ, sở lễ,
tánh không tịch.
Cảm ứng tương giao
nan tư nghị.
Ngã thử đạo tràng
như đế châu.
Thập phương chư
Phật ảnh hiện trung.
Ngã thân ảnh hiện
chư Phật tiền.
đầu diện tiếp
túc qui mang lễ".
Tạm dịch nghĩa rộng ra là: con, người đang
lạy Phật, và Phật, người đang được lạy, cả hai ta cùng một bản
tánh, đó là tánh không, nghĩa là không có tự thể bất biến,
nghĩa là cùng do nhân duyên trùng trùng tác động lẫn nhau mà
có. Vì cùng một bản tánh nên sự cảm ứng giữa Ngài và con không
thể nghĩ bàn. Con ở trong đạo tràng rực rỡ, đẹp đẽ, sáng lạn
như viên ngọc quý vô giá vô cùng. Trong đạo tràng này có sự
hiện diện của chư Phật mười phương. Cũng trong đạo tràng này
thân con hiện ra trước mười phương chư Phật. Con thành kính
cúi đầu quỳ lạy xin quay về tựa
đấng Giác Ngộ.
Huỳnh Phú Sổ đã dịch thành thơ, thành thi
kệ, như sau:
"Sự lạy Phật vốn
không, yên tỉnh.
đạo cảm giao
khó tính không bàn.
Nay tôi ở trong
đạo tràng.
Cũng như kết chặt
vào đoàn ngọc châu.
Mười phương Phật
hiện bầu hình ảnh.
Có bóng tôi cũng
sánh cùng Ngài.
Từ chơn cho chí
mặt mày.
Cúi đầu làm lễ
nguyện rày quy y".
Hai câu đầu chỉ dịch bình thường, không có
gì xuất sắc nhưng câu 3 và 4 thì tuyệt vời khôn tả "Nay
tôi ở trong đạo tràng. Cũng như kết chặt vào đoàn ngọc châu".
Cả đạo tràng là một xâu chuổi ngọc và tôi là một viên ngọc,
cũng sáng, cũng đẹp, cũng quý như xâu chuổi ngọc và đặc biệt
là viên ngọc của tôi được gắn vào toàn xâu chuổi ngọc, một
cách hoàn mỹ, khít khao, trọn vẹn, không có gì sai khác, bởi
vì tất cả mọi người trong đạo tràng, cũng như tôi, đều có Phật
tánh đẹp đẽ, rực rỡ, sáng suốt, quý báu vô giá. Tuyệt vời hơn
nữa, thâm nhập sâu xa, viên mãn vào thế giới Hoa Nghiêm, thế
giới của tương tức, tương nhập, một là tất cả và tất cả là
một, trong cái này có cái kia và trong tôi có tất cả thế giới,
tất cả vũ trụ, đó là câu 5 và 6 "Mười
phương Phật hiện bầu hình ảnh. Có bóng tôi cùng sánh các Ngài".
Thật là tuyệt. Mười phương thế giới có vô
số Phật, nhiều như cát sông Hằng. Trong hình ảnh của vô số chư
Phật đều có hình ảnh của tôi hay trong hình ảnh của tôi cũng
ẩn chứa hình ảnh của chư Phật mười phương thế giới. Và có bao
nhiêu triệu chư Phật là cũng có bấy nhiêu triệu hình ảnh tôi
cùng sánh vai, sánh bước với các Ngài.
đây là những
câu thơ xuất thần, hay và siêu việt qua bản chính bằng tiếng
Hán. Chỉ có hóa thân Phật hay Bồ Tát mới dịch hùng tráng, ngạo
nghễ như vậy, và rất đúng với tinh thần Hoa Nghiêm. Hai câu
cuối, 7 và 8, dịch câu "đầu
diện tiếp túc qui mạng lễ" thành "Từ
chơn cho chí mặt mày. Cúi đầu làm lễ nguyện rày qui y".
Thật là chính xác và vô cùng Việt Nam.
để
hiểu rõ hơn hình ảnh này, ta có thể lấy một hình ảnh khác để
so sánh: ta cúi xuống nhìn một ao nước, trong đó có hàng ngàn
bông bóng nước đang nổi bồng bềnh, ta sẽ thấy có hình ảnh của
ta trong tất cả những bông bóng nước này và trong tất cả hình
ảnh của ta cũng có hình ảnh của tất cả pháp giới. Muốn hiểu rõ
hơn xin đọc kỹ kinh Hoa Nghiêm qua các tác phẩm và bài giảng
về kinh Hoa Nghiêm của Hòa Thượng Nhất Hạnh, Thanh Từ... Hiểu
rõ ý nghĩa cao siêu, vượt thoát này của việc lạy Phật thì ta
mới biết việc lạy Phật không làm ta bị mất tư cách, hay hạ
thấp nhân phẩm của ta, mà trái lại đưa ta lên cao đến tuyệt
đỉnh, đồng nhất hóa chính mình với chư Phật, Bồ Tát mười
phương.
Tóm lại, Huỳnh Phú Sổ đã làm một thi kệ
tuyệt tác và vi diệu.
ông đã dùng những từ ngữ hết sức giản dị, bình dân để
chuyên chở và diễn tả những tư tưởng vĩ đại, cao siêu, chưa
từng có trong lịch sử tư tưởng của nhân loại. Chỉ với bài thi
kệ kiệt tác này, bồ tát Huỳnh Phú Sổ của Việt Nam, về mặt tư
tưởng, đã có thể đứng ngang hàng với bồ tát Long Thọ, tác giả
của Trung Quán Luận.
Bài thi kệ nổi tiếng này cũng được một danh
tăng dịch Việt ngữ, dưới nhan đề Quán Tưởng và được đưa vào
trong Nghi Thức Tụng Niệm Thống Nhất của PGVN, dù rằng bản
dịch này không xuất sắc và xuất thần như bản của Huỳnh Phú Sổ:
"Phật, chúng sinh
tánh thường rỗng lặng,
đạo cảm thông
không thể nghĩ bàn,
Lưới đế châu ví
đạo tràng,
Mười phương Phật
bảo hào quang sáng ngời,
Trước bảo tọa thân
con ảnh hiện,
Cúi đầu xin thệ
nguyện quy y".
Bản dịch này vừa không chính xác bằng và
vừa không bộc lộ tư tưởng cao sâu của bản chính. Trong khi bản
của Huỳnh Phú Sổ lại vừa sát với bản chính, vừa siêu việt qua
tư tưởng vốn đã rất cao sâu của bản chính. Có lẽ trong lịch sử
thi kệ Việt Nam, không có bài thơ nào, hay câu thơ nào, hay
hơn bốn câu của Huỳnh Phú Sổ:
"Nay tôi ở trong đạo tràng
Cũng như kết chặt vào đoàn ngọc châu
Mười phương Phật hiện bầu hình ảnh
Có bóng tôi cũng sánh cùng Ngài".
Sau đây, ta cùng nhau thưởng thức những thi
kệ khác của Huỳnh Phú Sổ. Các thi kệ này, trong bản chữ Hán
đều không có tựa đề, nên bản chữ Việt cũng không có tựa đề nào
cả. Và các thi kệ này được trình bày giống như trong Sấm Giảng
Thi Văn Toàn Tập, trước hết là đăng thi kệ phiên âm chữ Hán và
sau đó là bản chuyển ngữ của Huỳnh Phú Sổ.
*
Phật quán nhứt bát thủy,
Bát vạn tứ thiên trùng.
Nhược bất trì thử chú,
Như thực chúng sanh nhục.
Phật thấy chén
nước có trùng.
Bốn ngàn tám vạn
muốn dùng cho tinh.
Nếu không trì chú
niệm kinh.
Khác nào ăn thịt
chúng sinh hằng hà.
*
Thùy miên thỉ ngộ.
Ðương nguyện chúng sanh.
Nhứt thiết tri giác.
Châu cố thập phương.
Như tôi tỉnh giấc
lúc bình minh.
Chí nguyện cầu cho
cả chúng sanh.
Tâm trí khai thông
cùng tỉnh táo.
Mười phương đều rõ
máy anh linh.
*
đại
tiểu tiện thời.
đương
nguyện chúng sanh.
Khi tham, sân, si.
Quyên trừ tội pháp.
Cũng như tôi tiểu
tiện ra.
Nguyện cầu sanh
chúng tống ra khỏi mình:
Tham lam, gây gổ,
si tình.
Khỏi điều tội lỗi
nhẹ mình cao bay.
*
Sự ngật tựu thủy.
đương
nguyện chúng sanh.
Xuất thế pháp trung.
Tốc tật nhi vãng.
Việc xong rồi đến
tôi dùng nước.
Cũng như tôi lấy
nước nầy ra.
Nguyện chúng sanh
xuất khỏi ta bà.
Nhờ đạo pháp lướt
qua nhanh chóng.
*
Tẩy dịch hình uế.
đương
nguyện chúng sanh.
Thanh tịnh điều nhu.
Tất kiến vô tất.
Như tôi rửa sạch
khỏi dơ mình.
Chí nguyện cầu cho
cả chúng sanh.
đắc được thân
tâm, thanh tịnh lạc.
điều hòa chẳng
nhiễm nghiệp mê linh.
*
Dĩ thủy quán chưởng.
đương
nguyện chúng sanh.
đắc
thanh tịnh thủ.
Thọ trì Phật pháp.
Lấy nước tôi rửa
sạch tay.
Nguyện cầu sanh
chúng được tay thơm lành.
Ngõ hầu nắm pháp
vô sanh.
Giữ gìn lời Phật
ban hành từ xưa.
*
Dĩ thủy tẩy diện.
đương
nguyện chúng sanh.
đắc
tịnh pháp môn.
Vĩnh vô cấu nhiễm.
Lấy nước rửa sạch mặt mày.
Tôi nguyền sanh chúng đắc rày pháp môn.
Lặng yên trong cõi trường tồn.
Chẳng hề tiêm nhiễm tục hồn bợn nhơ.
*
Thấu khẩu liên tâm tịnh.
Dẫn thủy bá hoa hương.
Tam nghiệp hằng thanh tịnh.
đồng
Phật vãng Tây Phương.
Súc miệng tôi cũng
lắng lòng.
Ngậm nước như ngậm
trăm bông đủ mùi.
Cầu tịnh ba nghiệp
xong xuôi.
Tây Phương quyết
đến chung vui Phật đài.
*
Thủ chấp xát nha.
đương
nguyện chúng sanh.
Giai đắc diệu pháp.
Cứu cánh thanh tịnh.
Tay tôi cầm lấy
xát nha.
Nguyện cầu sanh
chúng gặp khoa diệu mầu.
Thảy đều thấy lý
cao sâu.
đến nơi yên
tỉnh tột sâu vô ngần.
*
Trước hạ quần thời,
đương
nguyện chúng sanh.
Phục chư thiện căn,
Cụ túc tàm hủy.
Cũng như tôi mặc
quần đây.
đặng cho phần
dưới khỏi thây lỏa lồ.
Nguyện chúng sanh
điểm tô điều thiện.
Lấy việc lành che
chuyện xấu xa.
*
Nhược trước thượng y,
đương
nguyện chúng sanh.
Hoạch thắng thiện căn,
Chí pháp bỉ ngạn.
Như tôi mặc áo
trên vào,
Nguyện cầu sanh
chúng trùm bao gốc lành.
Trổi bước tìm cuộc
vô sanh,
đến nơi sáng
suốt tịnh thanh Niết Bàn.
*
Chỉnh y thúc đái,
đương
nguyện chúng sanh.
Kiểm thúc thiện căn,
Bất linh tán thất.
Như tôi gài áo
buộc ràng dây,
Cầu nguyện chúng
sanh khắp cõi nầy.
Buộc chặt căn
lành vào thể phách,
Chẳng lo thất
lạc đổi cùng thay.
*
Nhược đắc kiến Phật,
đương
nguyện chúng sanh.
đắc
vô ngại nhãn,
Kiến nhứt thiết Phật.
Như tôi được
thấy Phật đây,
Nguyện cầu sanh
chúng đắc rày nhãn quan.
Mắt thông dòm
suốt khắp ngàn,
Nhìn thấy Chư
Phật thập phang đại đồng.
*
Pháp vương vô thượng tôn,
Tam giải vô luân thất.
Thiên nhơn chi đạo sư,
Tứ sanh chi từ phụ.
Ngã kim tạm quy y,
Năng diệt tam kỳ nghiệp.
Xưng dương nhược tán thán,
ức
kiếp mạc năng tân.
Ngài là vua Pháp
tối cao,
Khắp trong ba
cõi chẳng sao sánh tày.
Tiên, người đồng
kính đạo Thầy,
Cha lành hết cả
bốn loài chúng sanh.
Nay tôi qui mạng
thiệt hành,
Ngõ mong trừ dứt
nghiệp sanh ba đời.
Tỏ ra khen ngợi
những lời,
Dầu cho ức kiếp
chẳng nơi nào cùng.
*
Thiên thượng thiên hạ vô như Phật,
Thập phương thế giải diệc vô tỷ.
Thế gian sở hữu ngã tân kiến,
Như thiết vô hữu như Phật giả.
Trên dưới trời
chẳng ai bằng Phật,
Khắp mười phương
hẳn thật khó so.
Dòm trong cõi thế
rộng to,
Một người khó kiếm
sánh đo cùng Ngài.
*
Nhược kiến không bát,
đương
nguyện chúng sanh.
Cứu cánh thanh tịnh,
Không vô phiền não.
Như tôi thấy chén
không,
Cầu nguyện chúng
sanh đông.
đến tận bờ
thanh tịnh,
Phiền não vẫn
không không.
*
Nhược kiến mãn bát,
đương
nguyện chúng sanh.
Cụ túc thạch mãn,
Nhứt thiết thiện pháp.
Bằng như tôi thấy bát đầy đây,
Cầu nguyện chúng sanh khắp cõi nầy.
Chứa được no đủ thêm vẹn vẽ,
Pháp lành các món cũng về đây.
*
Thiện tai giải thoát phục,
Vô thượng phước điền y.
Ngã kim đảnh đái thọ,
Thế thế bất xã ly.
Lành thay y phục thoát trần,
Khác nào thửa ruộng tột phần tốt tươi.
Cuối đầu đội nó trên người,
Thề nguyền kiếp kiếp đời đời chẳng phai.
*
Thiện tai giải thoát phục,
Vô thượng phước điền y.
Ngã kim đảnh đái thọ,
Thế thế thường đắc phi.
Lành thay y phục
thoát trần,
Khác nào thửa
ruộng tột phần tốt tươi,
Cúi đầu đội nó
trên người,
Thề nguyền được
mặc đời đời chẳng phai.
*
Thiện tai giải thoát phục,
Vô thượng phước điền y.
Phụng trì Như Lai mạng,
Quảng độ chư chúng sanh.
Lành thay y phục
thoát trần,
Khác nào thửa
ruộng tột phần tốt thay.
Nguyện theo mạng
lịnh Như Lai,
Mở lòng rộng rãi
độ rày chúng sanh.
*
Nguyện thử chung thinh siêu pháp giải,
Thiết vi u ám tất giai văn.
Văn trần thanh tịnh chứng viên thông,
Nhứt thiết chúng sanh thành chánh giác.
Nguyện tiếng
chuông lành thông các cõi,
Thiết vi địa ngục
cũng nghe rành.
Nghe rồi thân
tịnh, tâm tròn sáng,
Tất cả chúng sanh
Phật đạo thành.
*
Văn chung thinh phiền não khinh,
Trí huệ chưởng bồ đề sanh.
Ly địa ngục xuất hỏa khanh,
Nguyện thành Phật độ chúng sanh.
Nghe chuông phiền
não tiêu tan,
Bồ đề tâm mở trí
toan huệ mầu.
Lìa xa địa ngục
thảm sầu,
Khỏi nơi hầm lửa
đặng cầu chơn tâm.
Nguyện tu thành
Phật chẳng lầm,
độ trong sanh
chúng hết lâm tai nàn.
*
Thủ chấp tịnh bình,
đương
nguyện chúng sanh.
Nội ngoại vô cấu,
Tất linh quang khiết.
Tay tôi cầm lấy
tịnh bình,
Nguyện cầu thân
thể chúng sanh trong ngoài.
đều không
nhiễm trược trần ai,
Sạch tinh sáng
láng tắc lai diệu huyền.
Bạc Liêu, năm 7 Nhâm Ngũ (1942) ".
Các bài thi kệ trên đây, tuy lần đầu tiên
được bồ tát Huỳnh Phú Sổ dịch ra tiếng Việt và ađ4 được dịch
hơn nửa thế kỷ, nhưng tất cả các bài thi kệ này đều được
chuyển ngữ rất chính xác, rất Việt Nam và rất xuất sắc. Nhân
đây ta hãy thưởng thức thêm một số thi kệ của thiền sư Nhất
Hạnh. Cũng lấy nguồn cảm hứng từ các thi kệ Hán văn trên đây,
Nhất Hạnh đã phóng tác thành một số thi kệ, vừa đầy thiền vị,
vừa đầy chất thơ và đậm đà hương sắc Việt Nam.
Thi Kệ Của Huỳnh Phú Sổ Và Của Nhất Hạnh.
Huỳnh Phú Sổ và Nhất Hạnh cùng sinh trong
khoảng thời gian 1920 và nếu còn ẩn thì Huỳnh Phú Sổ năm nay
(1995) cũng chỉ mới 75 tuổi.
ông ra đi năm
1947, cách đây 48 năm. Chỉ xét riêng về thi kệ, thì các thi kệ
của Huỳnh Phú Sổ tuyệt diệu không thua gì các thi kệ của Nhất
Hạnh. Nhưng nếu xét về thời gian của sự hình thành các thi kệ
này, Huỳnh Phú Sổ viết ra vào năm 1942, khi ông chỉ mới 22
tuổi và Nhất Hạnh viết ra sau ông đến mấy chục năm, có lẽ là
trong thập niên 80, thì các thi kệ của Huỳnh Phú Sổ có chỗ
đứng cao hơn về phương diện lịch sử văn học, với tư cách là
người đầu tiên làm thi kệ bằng tiếng Việt. Về phương diện lịch
sử Phật giáo thì phải coi Huỳnh Phú Sổ là một thần đồng, một
thiên tài, một hiện tượng hy hữu, độc nhất vô nhị, khi viết
các thi kệ này lúc chỉ mới 22 tuổi.
Các thi kệ của thiền sư Nhất Hạnh được đăng
trong Phần Phụ Lục của Nghi Thức Tụng Niệm Toàn Bằng Quốc Văn,
dưới nhan đề Thi Kệ Nhật Dụng.
Thức Dậy
Thức dậy miệng mỉm cười
Hăm bốn giờ tinh khôi
Xin nguyện sống trọn vẹn
Mắt thương nhìn cuộc đời
Mở Cửa Sổ
Mở cửa nhìn pháp thân
đời
mấu nhiệm không cùng
Lòng dặn lòng tỉnh thức
Giòng nước tâm trong ngần
Quơ Dép
đặt
chân trên mặt đất
Là thể hiện thần thông
Từng bước chân tỉnh thức
Làm hiển lộ pháp thân
Vặn Nước
Nước từ nguồn suối cao
Nước từ lòng đất sâu
Nước mầu nhiệm tuôn chảy
Ơn nước luôn tràn đầy
Rửa Tay
Múc nước để rửa tay
Xin nguyện cho mọi người
Có đôi bàn tay khéo
Gìn giữ trái đất này
Súc Miệng,
đánh Răng
đánh
răng và súc miệng
Cho sạch nghiệp nói năng
Miệng thơm lời chánh ngữ
Hoa nở tự vườn tâm
Vào Nhà Cầu
Không nhơ cũng không sạch
Không bớt cũng không thêm
Trí Tuệ Ba La Mật
Không có pháp nào trên
Mặc
áo
Cơm ngày hai bữa ơn cày cấy
áo
mặc bốn mùa nghĩa dệt may
Tắm
Không sinh cũng không diệt
Không trước cũng không sau
Trao truyền và tiếp thọ
Pháp giới tính nhiệm mầu
Soi Gương
Chánh niệm là đài gương
Gương soi hình tứ đại
đẹp
nhất là tình thương
Và cái nhìn rộng rãi
Rửa Chân
Sự an lạc
của ngón chân
Niềm an lạc
của thân tâm
Nghe Chuông
Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe,
Tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm.
Vào Thiền
đường
Vào thiền đường
Thấy chân tâm
Một ngồi xuống
Dứt trầm luân
Ngồi Xuống
Ngồi đây ngồi cội Bồ
đề
Vững thân chánh niệm không hề lãng xao
điều
Thân
Trong tư thế kiết già
đóa
hoa nhân phẩm nở
Ư ư đàm hoa muôn thửa
Vẫn tỏa ngát hương thơm
điều
Tức
Thở vào tâm tĩnh lặng
Thở ra miệng mỉm cười
An trú trong hiện tại
Giờ phút đẹp tuyệt vời
Tê Chân
đổi Cách Ngồi
Khổ thọ và lạc thọ
Như mây trời theo gió
Hơi thở là giây neo
Thuyền về nơi bến cũ
Chắp Tay Chào
Sen búp xin tặng người
Một vị Phật tương lai
Khen Bụt
Xinh tốt như hoa sen
Rạng ngời như Bắc
đẩu
Xin quay về nương náu
Bậc thầy của nhân thiên
Dâng Hương
Hương đốt khói trầm xông ngát
Kết thành một đóa tường vân
đệ
tử đem lòng thành kính
Cúng dường chư Bụt mười phương
Giới luật chuyên trì nghiêm mật
Công phu thiền định tinh cần
Tuệ giác hiện dần quả báu
Dâng thành một nén tâm hương
Mở Kinh (I)
Phép Bụt cao siêu huyền diệu
Ngàn đời chưa dễ gặp đâu
Giờ đây có duyên trì tụng
Nguyện xin đạt ý nhiệm mầu
Mở Kinh (II)
Phép Bụt cao siêu mầu nhiệm
Cơ duyên may được thọ trì
Xin nguyện đi vào biển tuệ
Tinh thông giáo pháp huyền vi
Chùi Cầu Tiêu
đẹp
thay sự quét dọn
Tịnh nghiệp ngày thêm lớn
Quét Tước
Siêng năng quét đất Bụt
Cây tuệ nẩy mầm xanh
Dọn Thiền
đường
Nơi thiền đường im mát
Quét dọn không thấy mệt
đổ
Rác
Một thùng rác bẩn
Một bông hồng thơm
Muôn vật chuyển hóa
Thường trong vô thường
Cắt Hoa
Xin cắt một cành hoa
Tặng phẩm của đất trời
Hoa là vị Bồ Tát
Làm đẹp cho cuộc đời
Cắm Hoa
Trang nghiêm
tịnh
độ
Nơi cõi ta bà
đất
tâm thanh tịnh
Hiển lộ ngàn hoa
Thay Nước Bình Hoa
Nước giữ hoa tươi
Hoa nở cho người
Hoa thở tôi thở
Hoa cười tôi cười
đốt
Nến
Thắp lên một ngọn đèn
Cúng dường vô lượng Bụt
Một tâm niệm an lành
Làm rạng ngời mặt đất
Cúng Hương
Xin cho khói trầm thơm
Biến thành mây năm sắc
Dâng lên khắp mười phương
Cúng dường vô lượng Bụt
Vô lượng chư Bồ Tát
Cùng các Thánh hiền Tăng
Nơi pháp giới dung thông
Kết đài sen rực rỡ
Nguyện làm kẻ đồng hành
Trên con đường giác ngộ
Xin mọi loài chúng sanh
Từ bỏ cõi lãng quên
Theo đường Giới
định Tuệ
Quay về trong tỉnh thức
Bật
đèn
Thất niệm là bóng đêm
Chánh niệm là ánh sáng
đưa
tỉnh giác trở về
Cho thế giới tỏ rạng
Lặt Rau
Mặt trời xanh rờn một rỗ rau tươi
Vạn pháp nương nhau làm nên cuộc đời
Làm Vườn
đất
đưa ta ra đời
Rồi đất ôm ấp ta
Sinh diệt trong hơi thờ
Sinh diệt như hằng sa
Trồng Cây
Tôi gửi tôi cho đất
đất
gửi đất cho tôi
Tôi gửi tôi nơi Bụt
Bụt gửi Bụt nơi tôi
Khen Bụt
Sen quý nở đài giác ngộ
Hào quang chiếu rạng mười phương
Trí tuệ vượt tầm pháp giới
Từ bi thấm nhuận non sông
Vừa thấy dung nhan
điều Ngự
Trăm ngàn phiền não sạch không
Hướng về tán dương công đức
Tinh chuyên đạo nghiệp vun trồng
Tưới Cây
Nước mát và mặt trời
Cùng làm nên màu xanh
Cam lộ của Bồ Tát
Rớt xuống nơi sa mạc
Thành biển xanh
Mênh mong
Thiền Hành
ý
về muôn vạn nẻo
Thiền lộ tâm an nhiên
Từng bước gió mát dậy
Từng bước nở hoa sen
Uống Trà
Chén trà trong hai tay
Chánh niệm nâng tròn đầy
Thân và tâm an trú
Bây giờ và ở đây
Nâng Bát Cơm
Ai ơi nâng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần
Thỉnh Chuông
Ba nghiệp lắng thanh tịnh
Gửi lòng theo tiếng chuông
Nguyện người nghe tỉnh thức
Vượt thoát nẻo đau buồn
Hồi Hướng Và Phát Nguyện
Trì thuyết kinh thâm diệu
Tạo công đức vô biên
đệ
tử xin hồi hướng
Cho chúng sanh mọi miền
Pháp môn xin nguyện học
ơn
nghĩa xin nguyện đền
Phiền não xin nguyện đoạn
Quả Bụt xin chứng nên
Cầm
ống
điện Thoại Lên
Tiếng đi ngoài ngàn dặm
Xây dựng niềm tin yêu
Mỗi lời là châu ngọc
Mỗi lời là gấm thêu
Trước Khi Rồ Máy Xe
Trước khi cho máy nổ
Tôi biết tôi đi đâu
Xe với tôi là một
Xe mau tôi cũng mau
Nhìn Bàn Tay
Bàn tay là của ai
Chưa từng một lần chết
Ai ngày qua đã sinh
Ai ngày mai sẽ diệt
Mở Máy Truyền Hình
Tâm là máy truyền hình
Có muôn ngàn nút bấm
Chọn thế giới an lành
Cho tươi vui cuộc sống