Thứ Nhất, Tiểu Dẫn
Về Tài Liệu
1. Kinh này dịch và
in năm 2514 (1970) một cách b́nh thường. Nay được chữa lại khá kyլ
dẫu không c̣n để phần dịch âm.
2. Tài liệu được sử
dụng là Đại tạng kinh bản Đại chính tân tu (kư hiệu là Chính) và
Tục tạng kinh bản chữ Vạn (kư hiệu là Vạn).
3. Nguyên bản căn cứ
để chữa là Chính 13/777 - 790. Nguyên bản này không chia 3 cuốn mà
chia 2 cuốn thượng hạ. Bản in riêng của Phật giáo Trung hoa cũng
được sử dụng. Địa tạng khoa chú (Vạn 35/197-336) lại càng được
tham chiếu.
4. Quan trọng đến nỗi
không thể thiếu được trong việc t́m hiểu về đức Địa tạng là kinh
Thập luân (Chính 13/721-777). Bản dịch trước của kinh này (Chính
13/681-721) và kinh Chiêm sát (Chính 17/901-910) cũng được tham
khảo.
5. Tài liệu để soạn
nghi thức sám nguyện là Tán lễ Địa tạng bồ tát sám nguyện nghi
(Vạn 129/68-71), nhưng kinh Thập luân vẫn là tài liệu chính.
Thứ Hai, T́m Xét Về
Dịch Chủ
Về dịch giả kinh Địa
tạng, có thể có 3 thuyết. Thứ nhất, tôi nhớ khi nhỏ có thấy 1 bản
ghi ngài Pháp cự dịch. Thứ hai, 1 bản dịch ghi là ngài Pháp đăng.
Thứ ba, nhiều bản ghi là ngài Thật xoa nan đà.
Về ngài Pháp cự, niên
đại dịch kinh là 290-306 (Chính 98/678). Xuất xứ này cũng ghi dịch
phẩm của ngài, như những xuất xứ khác. Trong những dịch phẩm được
ghi, không có kinh Địa tạng. Nhưng trong Chính 49/61, cũng như mấy
xuất xứ nữa, ghi dịch phẩm của ngài có 132 bộ 142 cuốn ẫ mà không
bản mục lục nào ghi được đầy đủ. Như vậy không rơ trong đó có kinh
Địa tạng mà thất lạc, hay không?
Về ngài Pháp đăng,
không thể t́m thấy tên, nên không thể nói ǵ được.
Về ngài Thật xoa nan
đà, niên đại dịch kinh là 695-704 (Chính 98/668). Có đến 5 xuất xứ
ghi ngài là dịch giả kinh Địa tạng: Chính 13/777, Vạn 35/220A,
Chính 99/346, Chính 99/376, và Chính 100/1010.
Phần tôi, sau khi tra
cứu gần hết sử truyện và mục lục, ghi lại như trên đây. Nhưng thấy
vấn đề dịch giả kinh Địa tạng vẫn bất ổn. Tôi lại không có 1 bản
giảng giải mới nào, nên không biết có sự tra cứu nào đáng kể
không. Riêng ngài Thái hư th́ cũng cho dịch giả kinh Địa tạng là
ngài Thật xoa nan đà (Thái hư toàn thư, 29/2470).
Thứ Ba, Khái Lược
Về Nội Dung
Như vừa nói, nguyên
bản kinh này chia 2 cuốn: cuốn thượng có các phẩm 1-6, cuốn hạ có
các phẩm 7-13. Xét ra chia như vậy mới có nghĩa. Chia 3 cuốn
thượng trung hạ chỉ để tŕ tụng cho thích hợp th́ gian mà thôi.
Kinh này cốt nói đại nguyện đại lực của Địa tạng đại sĩ. Cuốn
thượng kể như là phần chính thuyết, nói đại lược đă đủ, và cuối
phẩm 6 đă kết thúc bằng sự đặt tên kinh. C̣n cuốn hạ kể như là
phần bổ túc, bổ túc một số chi tiết. Nay tóm lược tất cả dưới đây.
Phần
Chính Thuyết
Phẩm 1: Thần
thông tại cung Đao lợi.-
Sát với chính văn th́
phải dịch là thần thông tại cung trời Đao lợi. Cung trời Đao lợi
là Thiện pháp đường, tức giảng đường của Đế thích, và là chỗ Phật
thuyết pháp cho mẹ, trong pháp được thuyết có kinh Địa tạng. Thần
thông là đại bộ phận của thần lực và nhiều lúc cũng gọi là thần
lực. Vă lại chữ thần lực đủ và sát với phẩm này, nên phải đổi ra.
Xét thần lực của phẩm này nói th́ thấy có 3. Một, thần lực không
nói mà thấy rơ, đó là biến cung Đao lợi vốn rất lớn và trang
nghiêm lại càng lớn và trang nghiêm vô tận (như Bồ đề tràng trong
Hoa nghiêm). Hai, thần lực ánh sáng và âm thanh mà Phật biểu hiện
ở cung Đao lợi (như phóng quang và thần lực trong Pháp hoa). Ba,
thần lực hóa độ và tác thành của đức Địa tạng mà tại cung Đao lợi
Phật đă đề cao. Chính yếu của phẩm này là 2 thần lực sau. Ngoài 3
thần lực này, phẩm này cốt nói đại nguyện của đức Địa tạng, đại
nguyện ấy cũng là một thần lực, mà là thần lực quan trọng.
Phẩm 2: Thân
phân hóa qui tụ lại.-
Phân thân là phương
tiện quan trọng nhất trong những phương tiện mà đức Địa tạng đă
vận dụng để giải thoát cho bao kẻ tội khổ ẫ như đại nguyện mà phẩm
1 đă nói. Cũng chính v́ đại nguyện nghiêng nặng về bao kẻ tội khổ,
nên phân thân mà phẩm này nói đă nhấn mạnh phân thân ở địa ngục.
Nhưng phân thân của đức Địa tạng, theo kinh Thập luân th́ đếm được
42 loại (Chính 13/725), c̣n kinh này có 20 loại, của Phật nhưng là
điển h́nh cho các vị đại sĩ. Phân thân như vậy có 2 loại lớn là
hữu t́nh và vô t́nh. Trong loại vô t́nh, kinh Thập luân chỉ nói"
hiện những cảnh đẹp cho người vui thích", c̣n kinh này nói rơ hơn:
hiện ra làm núi rừng, ḍng nước, đồng bằng, sông ng̣i, ao hồ, suối
giếng. Nói rơ mà không đủ, v́ ngoài núi rừng và đồng bằng, chỉ nói
toàn nước -- Nói như vậy cũng không lạ, nếu ta biết đến vấn đề
nước ở cái xứ nóng như Ấn độ. Nhưng phải nói như chính đức Địa
tạng đă nói mới rơ và đủ hơn, dầu vắn tắt hơn, rằng thân đức Địa
tạng là thân không biên cương, rằng tại mỗi thế giới hệ, ngài phân
hóa trăm ngàn vạn ức thân h́nh. Và phân hóa thân h́nh là để thuyết
pháp. Nhưng thuyết pháp ở đây không phải chỉ có một cách nói bằng
lời, mà nói bằng nhiều cách: cách nào mà lợi người là thuyết pháp
cả. Nên cảnh vật làm người vui thích, làm người được ích lợi, th́
đó chính là sự thuyết pháp, là sự độ thoát. Đừng hiểu rằng hiện
cảnh vật ích lợi mọi người để rồi sau đó thuyết pháp độ thoát cho
họ. Mặt khác, v́ đại nguyện và sự phân thân như vậy, nên trong
phẩm này đức Địa tạng được đức Thế tôn đem chúng sinh, trong đó có
chúng ta, kư thác cho ngài.
Phẩm 3: Quán
sát nghiệp quả chúng sinh.-
Nghiệp quả, hay
nghiệp cảm, là hành vi và kết quả của hành vi. Nói quán sát nghiệp
quả của chúng sinh, nhưng thật ra phẩm này lấy người Diêm phù
chúng ta làm điển h́nh mà nói. V́ đại nguyện của đức Địa tạng chú
trọng chúng sinh tội khổ, nên phân thân của ngài đă nhấn mạnh phân
thân địa ngục, và bây giờ nói quán sát nghiệp quả, nhưng thật ra
chỉ quán sát nghiệp quả địa ngục ẫ đặc biệt địa ngục vô gián, nơi
nghiệp dữ nhất và quả khổ nhất. Điều rất đáng tiếc là trong phần
nói về nghiệp dữ nhất ấy đă không nói đến nghiệp dữ hơn hết, ấy là
những chủ thuyết độc hại nhân loại mà chữ tà kiến hay ác kiến
không diễn đạt hết được. Phản bội Phật pháp, đi theo các chủ
thuyết ấy, cũng là nghiệp dữ nhất mà kinh này đă không nói đến.
Phẩm 4: Nghiệp
quả của người Diêm phù.-
Phẩm này tiếp tục
phẩm trước, lấy người Diêm phù chúng ta làm điển h́nh mà nói về
nghiệp quả của chúng sinh, nhưng nói rộng hơn: Một, về nghiệp quả,
không phải chỉ nói nghiệp quả vô gián, nhưng vẫn chú trọng nghiệp
quả đường dữ. Hai, nói về đại thệ (lời thề thực hiện đại nguyện)
của đức Địa tạng. Ba, nói về cách giải thoát nghiệp quả cho chúng
sinh của đức Địa tạng; trong cách này, ở đây đưa ra cách nói về
nhân quả, nhưng chữ nói ấy không phải chỉ là nói, khuyên và răn,
mà là nói bằng sự "vận dụng hàng trăm hàng ngàn phương tiện". Hai
phần đại thệ và cách nói như vậy là vài phương tiện của đức Địa
Tạng.
Phẩm 5: Danh
xưng địa ngục.-
Danh xưng địa ngục là
tên của các địa ngục. Chính tên của mỗi địa ngục biểu thị h́nh cụ
và cực h́nh của địa ngục ấy. Phẩm này chỉ bổ túc cho phẩm 4, nói
về các địa ngục, nơi nghiệp dữ phải chịu quả báo, sau khi chịu hoa
báo và trước khi chịu dư báo. Nhưng đến đây, sau 3 phẩm 3, 4 và 5
nói về nghiệp quả, những điểm chính yếu sau đây phải được nhận rơ:
địa ngục thật khổ, và ai làm nghiệp dữ th́ người ấy tự chịu, chứ
không ai có thể chịu thay cho; như vậy địa ngục là thật, nếu thật
có nghiệp dữ; nhưng cũng không thật, nếu nghiệp dữ không có hay có
mà được trừ bỏ; sự trừ bỏ cũng vẫn có thể hy vọng, nếu biết qui y
đức Địa tạng và làm theo kinh này chỉ dẫn; và đức Địa tạng trừ bỏ
cứu vớt cho cũng không phải chỉ trừ bỏ cứu vớt nơi cái nhân mà c̣n
ngay nơi cái quả: Đó là sự đặc biệt, bất khả tư nghị của đức Địa
tạng và kinh Địa tạng.
Phẩm 6: Thế
tôn tuyên dương.-
Các phẩm trước đă nói về thệ nguyện, phương tiện và sở độ của đức
Địa tạng, phẩm này nói về sự ích lợi nhân thiên của ngài. Ích lợi
nhân thiên là đem lại cho nhân thiên và mọi loài sự ích lợi mà
phần chính là ở chính trong nhân thiên. Sự ích lợi ấy gọi là sự
yên vui tuyệt diệu (thắng diệu lạc). Sự ích lợi ấy ích lợi cả nhân
và quả, cả hiện tại và vị lai. Ích lợi này c̣n được nói đến trong
phẩm 12 và rải rác ở các phẩm khác. Và, như đă nói, đến đây kể như
đă lược đủ về đại nguyện và đại lực của đức Địa tạng, nên Phật đặt
tên cho kinh này, tên ấy biểu thị đại nguyện và đại lực đă nói.
Phần Bổ
Túc
Phẩm 7: Lợi
ích người c̣n kẻ mất.-
Phẩm này bổ túc cho
chi tiết ích lợi kẻ mất: làm cách nào để kẻ mất được ích lợi mà
người c̣n cũng được. Trong cách ấy, hại nhất cho kẻ mất, cái hại
phải cố mà tránh, ấy là sự sát sinh cúng tế.
Phẩm 8: Chúa
tôi Diêm la xưng tụng.-
Diêm la là Diêm la
thiên tử, cũng gọi là Diêm vương, thuộc loài quỷ, thống lănh quỉ
chúng và tổng quản địa ngục. Phẩm này bổ túc những chi tiết sau
đây: Thứ nhất, bổ túc sự đại tinh tiến, cứu độ không chán mệt của
đại nguyện đức Địa tạng. Thứ hai, bổ túc uy thần của đức Địa tạng
đối với thế giới quỉ -- thế giới rất mạnh và đa dạng, mạnh nên gây
họa mạnh bao nhiêu th́ giúp phước cũng mạnh bấy nhiêu, khi có uy
thần của đức Địa tạng. Thứ ba, bổ túc ích lợi khi chết, nhất là
lúc sinh. Trong chi tiết này có vài chi tiết nhỏ: Một, lúc sinh
không được sát sinh tiệc tùng (phẩm trước mới nói khi chết không
được sát sinh cúng tế); c̣n khi chết th́ phẩm này nói đến một
trong những cái gọi là "cách ấm mê": sự bị mê hoặc dẫn dụ khi
chết. Hai, chúa quỉ Chủ sinh mạng, vị bổ túc chi tiết thứ ba này
được Phật gọi là một vị đại bồ tát và thọ kư cho: quan trọng biết
bao. Điều cần phải đặc biệt nói thêm, là kinh này hết sức răn việc
sát sinh (để cúng tế khi chết và tiệc tùng lúc sinh), coi việc sát
sinh cùng loại với tội vô gián (chính văn : ... ngoại trừ 5 thứ
nghiệp dữ vô gián với nghiệp dữ sát sinh, c̣n những nghiệp dữ
tương đối nhỏ hơn...).
Phẩm 9: Xưng
tụng danh hiệu chư Phật.-
Phẩm này bổ túc chi
tiết nghe hay niệm danh hiệu Phật đà. Điều cần ghi chú, là mục
đích bổ túc, cũng như lời kết thúc, tuy có vẻ nhấn mạnh giành cho
sự chết -- sắp chết, chết, sau khi chết; nhưng, những hiệu năng
của mỗi hiệu Phật được nói đến lại không phải chỉ như vậy. Vậy mới
biết, khi sắp chết, cái an ủi người chết, cái để cho người chết
bám víu là danh hiệu của Phật, nhưng danh hiệu ấy cũng là, trước
hết đă là, cái cho người sống bám víu, và từ đó thấy rơ cái phước
được biết Phật và được niệm Phật cần thiết đến mức nào trong đời
sống.
Phẩm 10: Trắc
lượng công đức bố thí.-
Phẩm này bổ túc nhân
tố thánh thiện, đặc biệt c̣n chỉ cách biến nhân tố ấy từ hữu lậu
thành vô lậu.
Phẩm 11:
Thần đất hộ
tŕ.-
Phẩm này bổ túc chi
tiết phụng thờ đức Địa tạng. Cách thức và ích lợi của sự phụng thờ
ấy, phẩm này nói rơ. Trong phần ích lợi, sự đất đai được màu mỡ
(thứ 1) và hay gặp dịp làm phước (thứ 10) đă đáng chú ư, nhưng
đáng chú ư hơn nữa là ở phẩm này người nói về đức Địa tạng là một
vị Địa thần: 2 chữ Địa như vậy không phải ngẫu nhiên mà trùng hợp.
Phẩm 12: Ích
lợi của sự thấy nghe.-
Thấy nghe là thấy
h́nh tượng hay nghe danh hiệu của đức Địa tạng. Ích lợi của sự
thấy nghe như vậy là bổ túc cho sự ích lợi nhân thiên của đức Địa
tạng. Trước khi nói ích lợi ấy, Phật phóng ánh sáng đặc biệt, và
vị phát khởi là chính đức Quan âm: như thế cũng đủ thấy sự ích lợi
ấy bất khả tư nghị đến mức nào. Nên sự ích lợi nhân thiên chính là
sự bất khả tư nghị: siêu việt và khác thường, tư tưởng và ngôn ngữ
b́nh thường không thể tư duy và mô tả sự ích lợi ấy, nhất là tư
duy mô tả theo cách thức b́nh thường.
Phẩm 13: Thế
tôn kư thác.-
Chính văn là chúc lụy
nhân thiên: đem nhân loại và chư thiên, và bao chúng sinh tội khổ
mà chúc lụy. Chúc, hay phó chúc, là giao phó, căn dặn. Lụy là mối
lụy, trách nhiệm nặng nề. Chúc lụy là căn dặn mà giao phó trách
nhiệm nặng nề. Nên tôi đổi ra chữ kư thác cho dễ hiểu. Nội dung
phẩm này tổng kết sự ích lợi bất khả tư nghị của đức Địa tạng,
nhưng quan trọng nhất là một lần nữa Phật lại đem chúng ta và
chúng sinh kư thác cho ngài. Sự kư thác này thật đặc biệt: một là
chỉ kư thác cho ngài, hai là chỉ kinh này có sự kư thác như vậy.
Ngay như kinh Pháp hoa, sự kư thác ở đó cũng không như ở đây.

II.
Địa Tạng Đại Sĩ
Tài liệu ghi về đại sĩ dưới đây toàn
xuất từ kinh Thập luân. Cách ghi th́ phần nhiều lược văn mà không
lược ư, nhưng cũng có chỗ dẫn dụng chính văn. Chỗ nào dẫn kinh
điển khác th́ ghi tên rơ ràng.
1. Danh hiệu của đức Địa tạng.- Theo
nghĩa đen, địa là đất, tạng là kho tàng: kho tàng đất, gọi là Địa
tạng. Nếu đọc Địa tàng th́ lại có nghĩa sự tàng trữ của đất. Nhưng
nghĩa chính th́ nên lấy cách đọc Địa tạng. Đại nhật kinh sớ nói
Điạ tạng bồ tát chủ tŕ kho báu vô biên công đức phát khởi từ bản
tánh của tâm địa. Định nghĩa này biến thành định nghĩa mà khoa
nghi thường nói "khể thủ bản nhiên tịnh tâm địa, vô tận phật tạng
đại từ tôn". C̣n 1 bài tựa của Địa tạng khoa chú (Vạn 35/206A) dẫn
lời Phật nói dũng mănh là Địa tạng. Lời này không thấy ghi xuất
xứ, nhưng rất đúng với đại thệ nguyện và đại tinh tiến của đức Điạ
tạng phân thân vào trong các đường dữ, nhất là vào trong địa ngục.
C̣n kinh Thập luân, khi tả đức tính của ngài về lục độ, có nói
nhẫn th́ vững như cơi đất to lớn, định th́ sâu như kho tàng bí
mật. Lời này thành định nghĩa của Phật học đại từ điển. Thế nhưng
các định nghĩa ấy không bằng chính văn sau đây. "Vị đại sĩ này,
bằng định lực, làm cho tất cả trái hạt phong phú. Tại sao, v́ vị
đại sĩ này đă qua vô số kiếp, nơi vô số Phật, phát cái nguyện cực
kỳ tinh tiến và kiên cố; do năng lực của nguyện ấy, để hóa độ
chúng sinh, ngài giữ ǵn tất cả đất đai và mầm giống cho chúng
sinh tùy ư hưởng dụng. Chính năng lực của ngài đă làm cho cả cơi
đất to lớn này cỏ cây rau lá sinh trưởng tốt tươi, thóc lúa hoa
quả đầy đủ chất lượng". Lời này cho thấy Địa tạng là kho đất, là
nghĩa đen thật sự. Và việc này rất liên hê đến sự tồn tại của Phật
pháp, liên hệ một cách đặc biệt. "Địa tạng đại sĩ bạch đức Thế
tôn, con nguyện tế độ tất cả bốn chúng đệ tử của đức Thế tôn. Con
làm tăng trưởng hết thảy bạch pháp giải thoát, tăng trưởng cây
trái thực phẩm và dược liệu, tăng trưởng đất nước gió lửa, nói
tóm, con làm cho ḍng giống Tam bảo trường tồn, rực rỡ và uy đức
... Đức Thế tôn nói, Địa tạng đại sĩ làm được như vậy là v́ đại sĩ
đă được tuệ giác Bát nhă sâu xa, nắm chắc tính chất đối kháng và
hỗ trợ lẫn nhau trong quá tŕnh sinh diệt của đất nước gió lửa".
Tư tưởng hệ Phật giáo về con người và
thế giới con người không phải chỉ có một mặt: có mặt do phước báo
mà có, đó là nhân quả dị thục; có mặt do nhân lực mới thành, đó là
nhân quả sĩ dụng; nhưng c̣n mặt nữa, đó là thần lực của chư Phật
chư đại bồ tát. Thần lực ấy thấy rơ nhất nơi Địa tạng đại sĩ, nên
trong kinh đă dẫn, đức Thế tôn đề cao như sau, "giả sử có người
đối với vô số đại bồ tát tŕ niệm và hiến cúng cả trăm kiếp, không
bằng có người trong th́ gian một bữa ăn chí tâm qui y, lễ bái, tŕ
niệm và hiến cúng Địa tạng, vị đại sĩ có đại bi nguyện và đại tinh
tiến quá hơn các vị bồ tát".
Đến đây th́ đă thấy khi xưng niệm
ngài, nên thay những chữ thừa mà thiếu là đại bi đại nguyện đại
thánh đại từ bằng những chữ đại bi đại nguyện đại định đại lực, đă
thấy ngài là vị minh dương cứu khổ chứ không phải chỉ là u minh
giáo chủ, đă thấy tŕ niệm ngài không phải chỉ để cầu siêu. Những
điều này, dưới đây sẽ c̣n thấy rơ hơn nữa.
Trên đây là định nghĩa chính về danh
hiệu của Địa tạng đại sĩ. Phần tôi, căn cứ tinh thần kinh Địa
tạng, nhất là căn cứ câu "tất cả thân h́nh của Điạ tạng đại sĩ
phân hóa tại các địa ngục của các thế giới hệ" trong phẩm 2, tôi
lại muốn định nghĩa đơn giản, rằng Địa tạng là tàng h́nh trong điạ
ngục. Tôi nói muốn định nghĩa như vậy, không nói đó là định nghĩa.
Tuy nhiên, tôi thấy như vậy lại rất thâm thiết đối với hạnh nguyện
của Địa tạng đại sĩ. Sau này có dịp được thấy Thái hư đại sư đă có
ư kiến đó (Thái hư toàn thư tập 29 trang 2468).
2. H́nh tượng của đức Địa tạng.- Địa
tạng đại sĩ đến với Phật từ phương nam, bằng h́nh tướng Thanh văn,
tức h́nh tướng xuất gia. H́nh tướng ấy vừa tiêu biểu vừa hộ tŕ
cho Tăng bảo và sự giải thoát của toàn bộ Phật pháp. Thị hiện h́nh
tướng ấy, có nghĩa như Phật nói, "chỉ có chư Phật thế tôn và bồ
tát đại sĩ mới hộ tŕ được 2 việc: hộ tŕ người xuất gia v́ muốn
tiếp nối ḍng giống Tam bảo và hộ tŕ chánh pháp thuận với sự giải
thoát của cả Tam thừa. Thế quyền không làm được việc ấy; đừng ŕnh
sơ hở mà hại đệ tử và chánh pháp của ta".
Quốc độ này Tăng bảo là người xuất
gia. Muốn làm cho Phật pháp tồn tại th́ phải ái hộ người xuất gia.
Ái hộ người xuất gia, trước hết và căn bản, là ái hộ giới pháp.
"Người xuất gia dẫu tàn tệ đến nỗi chỉ là cái thây chết phá giới,
không giới, sẽ đọa ác đạo, nhưng vẫn làm thiện tri thức cho nhân
thiên ở chỗ có thể tuyên thuyết Phật pháp cho họ, lại v́ có h́nh
tướng và uy nghi của người xuất gia nên làm cho mọi người phát
sinh cảm nghĩ quí báu". Do đó, Phật không chấp nhận họ là đệ tử,
nhưng cũng không chấp nhận thế quyền xúc phạm đến họ. Phật chỉ
chấp nhận sự trừng trị theo giới luật của Tăng chúng thanh tịnh.
Ái hộ người xuất gia là, kế đó, ái hộ
sự giải thoát và chánh pháp đem lại sự giải thoát ấy. Chánh pháp
giải thoát là cọng tướng của toàn bộ Phật pháp gồm cả thanh văn
tiểu thừa và vô thượng đại thừa, tuy nhiên, chánh pháp ấy căn bản
vẫn là thanh văn tiểu thừa. "Như vậy những kẻ tự xưng đại thừa,
khinh miệt và cản trở sự truyền bá tiểu thừa, những kẻ không tin,
phỉ báng và cản trở cả tiểu thừa đại thừa, tất cả những kẻ này
không được xuất gia, xuất gia rồi phải đuổi gấp, v́ họ mới thật là
kẻ đại tội ác gần với tội ác vô gián". "Đừng v́ lợi và danh mà lừa
đảo thế gian, tự xưng đại thừa, phỉ báng tiểu thừa. Làm như vậy
th́ họ không c̣n là đồ chứa đựng chánh pháp, dầu là chánh pháp
tiểu thừa hay chánh pháp đại thừa". Nên đối với những kẻ phá hoại
này Phật nghiêm khắc hơn cả với kẻ phá giới. Ngài đă biết trước và
dạy thi hành sự bất cọng trú đối với họ: "Tăng chúng thanh tịnh và
ḥa hợp trục xuất rồi mà họ dùng tiền của, học thức, khéo miệng và
mưu mô, làm cho thế quyền đứng về phía họ, buộc Tăng chúng thanh
tịnh phải để họ ở chung như cũ, th́ trong Tăng chúng những vị tỷ
kheo giữ giới và hổ thẹn, hăy v́ hộ tŕ giới pháp mà tŕnh bày rơ
ràng với thế quyền, đừng giận dữ thóa mạ những kẻ phá pháp ấy. Nếu
thấy tŕnh bày mà bị đàn áp, th́ nên bỏ chỗ ấy mà đi ở chỗ khác".
Ái hộ người xuất gia không phải chỉ
ái hộ giới luật thanh tịnh và chánh pháp giải thoát, Địa tạng đại
sĩ c̣n ái hộ bằng sự làm tăng thêm tư cụ để người xuất gia sống mà
giữ giới, mà tu bạch pháp giải thoát, mà, nói tóm, tiếp nối ḍng
giống Tam bảo. Nên như đă thấy, "Địa tạng đại sĩ bạch đức Thế tôn,
con nguyên tế độ tất cả 4 chúng đệ tự của đức Thế tôn. Con làm
tăng trưởng hết thảy bạch pháp giải thoát, tăng trưởng cây trái
thực phẩm và dược liêu, tăng trưởng đất nước gió lửa, nói tóm, con
làm cho ḍng giống Tam bảo trường tồn, rực rỡ và uy đức".
Với sự tiêu biểu và hộ tŕ người xuất
gia như trên đây, h́nh tướng xuất gia của đức Địa tạng đă thành
vấn đề, và là vấn đề trọng đại, là phải.
3. Đại nguyện của đức Địa tạng.- Kinh
đă dẫn tả đại nguyên này bằng những từ ngữ như sau. "Vị đại sĩ này
có vô số những sự bất khả tư nghị, ích lợi chúng sinh một cách cần
mẫn tinh tiến, là v́ đối trước hằng sa chư Phật, để ích lợi chúng
sinh, ngài đă phát khởi thệ nguyện đại từ bi, rất kiên cố, khó phá
hoại, rất dũng mănh, rất tinh tiến và vô cùng tận; do năng lực
tăng thượng của thệ nguyện ấy mà trong mỗi th́ gian bằng một ngày
đêm hay một bữa ăn, ngài cứu độ được vô lượng chúng sinh, làm cho
những sở cầu đúng như chánh pháp của họ đều thỏa măn cả".
4. Phân thân của đức Địa tạng.- Kinh
đă dẫn nói, "Vị đại sĩ này, bằng vào những sự bất khả tư nghị đă
hoàn thành, vào sự dũng mănh tinh tiến của thệ nguyện kiến cố, để
cứu độ chúng sinh, khắp trong thế giới hệ mười phương, ngài thị
hiện đủ mọi thân h́nh". Thân h́nh mà ngài thị hiện, không những đủ
loài, đủ hạng trong mỗi loài, đủ từ thân Phật đà đến thân địa
ngục, mà quan trọng và đặc biệt, c̣n "hiện những cảnh đẹp cho
người vui thích". Nhưng câu này phải nói như kinh Địa tạng mới rơ:
thân của Địa tạng đại sĩ là thân không biên cương. Phẩm 2 của kinh
ấy nói về sự phân thân của Phật, điển h́nh cho sự phân thân của
chư Phật và đại bồ tát, lại nói, "hoặc hiện rừng núi, ḍng nước,
đồng bằng, sông ng̣i, ao hồ, suối giếng, ích lợi khắp cả mọi
người, ai cũng được độ thoát". Chính văn câu này như sau, "hoặc
hiện sơn, lâm, xuyên, nguyên, hà, tŕ, tuyền, tỉnh, lợi cập ư
nhân, tất giai độ thoát". Trước đây tôi đă chuyển văn một chút mà
dịch như sau, "hoặc hiện núi sông, b́nh nguyên, ao hồ, suối giếng,
ích lợi khắp cả, toàn là tác dụng hóa độ". Chưa có kinh điển nào
nói minh bạch được như vậy, dẫu rằng trong cách nói cũng có thể
làm cho ta hiểu rằng sự phân thân của chư Phật và đại bồ tát là
như thế đó, không phải chỉ có những thân h́nh như chúng ta hiểu
theo nghĩa của chúng ta.
5. Định lực của đức Địa tạng.- Kinh
đă dẫn nói, tại bất cứ thế giới hệ nào, Địa tạng đại sĩ cũng nhập
các định, hoạt hiện vô biên diệu dụng, hóa độ vô lượng chúng sinh.
Sau khi kể rơ 23 định (2) , nhập định nào có lực dụng ǵ, kinh đă
dẫn nói, "nói tổng quát, vị đại sĩ này, hằng ngày mỗi buổi sáng
sớm, v́ cứu độ chúng sinh nên nhập vô số định. Định lực ấy tùy sở
ưng mà ích lợi chúng sinh trong mọi thế giới hệ", "đặc biệt là
trong giai đoạn ngũ trược và những thế giới hệ không có Phật xuất
hiện".
6. Sở độ của đức Địa tạng.- Như lời
kinh đă dẫn trên đây, đối tượng sở độ của Địa tạng đại sĩ có 3.
Thứ nhất, nói tổng quát là chúng sinh trong hết thảy quốc độ và
th́ gian. Thứ hai, nói đặc biệt lại có 3, là chúng sinh ở những
quốc độ không có Phật, ở những quốc độ có Phật nhưng thuộc giai
đoạn ngũ trược (và dẫn đếm tam tai) và thuộc giai đoạn cách hở
giữa 2 đức Phật (mà Phật pháp không c̣n). Thứ ba, nói thiết cận là
châu Diêm phù, tức loài người chúng ta đây, và theo kinh Địa tạng
th́ quan trọng là chúng sinh tội khổ trong các ác đạo, nhất là ác
đạo địa ngục, của châu Diêm phù. Do đó, Phật nói, Địa tạng đại sĩ
ứng hiện khắp nơi, nhưng nghiêng nặng đối với giai đoạn dữ dội
(Chiêm sát, Chính 17/902). Chính đại sĩ th́ ngài nói, đă 13 đại
kiếp đến nay, ngài nỗ lực cực nhọc loại trừ ngũ trược và tam tai
cho chúng sinh. C̣n kinh Địa tạng th́ nói đi lặp lại, rằng đối với
châu Diêm phù, ngài có một sự liên hệ lớn lao.
V́ châu Diêm phù, và giai đoạn ngũ
trược dẫn đến tam tai (3) , là đối tượng sở độ đặc biệt của Địa
tạng đại sĩ, nên ở đây phải nói sơ lược.
Như đă nói, Diêm phù là thế giới loài
người chúng ta đây. Thế giới ấy là 1 trong 1 tỷ thành phần của thế
giới hệ Sa bà. Đại bộ phận thế giới hệ này, cũng như các thế giới
hệ tương tự, có như nhau một quá tŕnh là thành: kết thành, trú:
tồn tại, hoại: hư ră, không: tan biến. Nhưng không rồi lại thành,
lại trú, lại hoại, lại không, luân chuyển như thế chứ không mất
hẳn. Mỗi thời kỳ thành trú hoại không đều có th́ gian như nhau,
nhưng chỉ thời kỳ trú mới có chúng sinh sinh sống, chúng sinh mà
trong đó loài người là đại bộ phận. Thời kỳ trú có 20 tăng giảm.
Thời kỳ thành rồi th́ có người sinh sống, và sống rất lâu, ấy là
tăng; sau đó con người v́ phát sinh ngũ trược mà sự sống giảm dần,
giảm đến trung b́nh không quá trăm tuổi là ngũ trược tăng th́, và
rồi sẽ giảm dần nữa cho đến dẫn ra tam tai, ấy là giảm. Tam tai là
đao binh, tật dịch, cơ cẩn (chiến tranh, nhiễm độc, nhân măn). Sau
tam tai, con người sống sót rất ít, mới biết khủng khiếp và thương
nhau, loài người lại phồn thịnh, trong đó có sự sống lâu tăng dần,
nhờ sự thương nhau đó, đó lại là tăng. Và cứ như thế mà tăng rồi
giảm, giảm lại tăng. Hiện nay là ngũ trược tăng th́ của thời kỳ
giảm thứ 9 trong 20 thời kỳ tăng giảm của thời kỳ trú. Như vậy th́
trước nữa và sau nữa c̣n có vô tận những giai đoạn ngũ trược và
tam tai. Trong ngũ trược, nhất là trong tam tai, Địa tạng đại sĩ
cứu độ bằng định lực. Nguyên nhân chính của tam tai là sự tàn hại
lẫn nhau, nên từ tâm thương nhau là nguyên nhân chính kết thúc tam
tai. Do đó mà trong tam tai, ai tu từ tâm th́ khỏi. Mà một trong
vô số hiệu năng định lực của đức Địa tạng là làm cho con người "bỏ
được tâm lư độc hại mà hướng về nhau bằng từ tâm".
7. Phó cảm của đức Địa tạng.- Diệu
dụng của Địa tạng đại sĩ là như thế, như một ít điều đă ghi trên
đây. Diệu dụng ấy, như vậy, toàn là để thỏa măn mọi sự sở cầu,
miễn mọi sự sở cầu ấy là "như pháp sở cầu" và xuất từ "chí tâm
xưng niệm", đó là 2 từ ngữ mà kinh Thập luân đă dẫn luôn luôn nói
đến.

Địa
Tạng Đại Sĩ và Kinh Địa Tạng
Bây giờ hăy nói vắn tắt về nội dung
kinh Địa tạng và đức Địa tạng qua kinh này.
Kinh này được gọi là hiếu kinh của
Phật giáo. Hiếu niệm của Phật giáo, chỉ cần nói, theo Bồ tát giới
Phạn vơng, cái tội nặng nhất là phải sinh ở những chỗ không được
nghe cái tên Cha mẹ hay Phật pháp tăng, cũng đủ để ư thức. Gọi là
hiếu kinh của Phật giáo, v́ kinh này có nội dung sau đây.
Thứ nhất, kể lại hiếu hạnh của Địa
tạng đại sĩ mà đại nguyện của ngài đă xuất phát từ hiếu hạnh ấy và
hoàn thành hiếu hạnh ấy. Đại nguyện của Địa tạng đại sĩ đại khái
có 2 cách nh́n: một, căn bản là "chúng sinh độ tận phương chứng bồ
đề, địa ngục vị không thệ bất thành Phật"; hai, tùy thời, tùy căn
và tùy cảnh, c̣n có những lời thề để thực hiện đại nguyện căn bản
trên đây. Đối tượng của đại nguyện Địa tạng đại sĩ đương nhiên vô
giới hạn, nhưng đặc biệt là chúng sinh tội khổ trong tam đồ, nhất
là trong địa ngục; là người Diêm phù; và như đă nói, c̣n có những
kẻ ở các thế giới hệ không Phật, hay có Phật mà thuộc giai đoạn
ngũ trược, giai đoạn tam tai, và thời kỳ cách hở giữa 2 đức Phật.
Thứ hai, tóm tắt những ích lợi, những
sự bất khả tư nghị của đại nguyện Địa tạng đại sĩ đem lại cho
chúng sinh. Đại nguyện Địa tạng đại sĩ thể hiện qua danh hiệu,
h́nh tượng và kinh điển (kinh Địa tạng) của ngài. Nên 3 pháp hạnh
tŕ niệm danh hiệu, chiêm bái h́nh tượng và tŕ tụng kinh điển
chính là tŕ niệm, chiêm bái và tŕ tụng đại nguyện của Địa tạng
đại sĩ, và những sở cầu mà trong kinh nói rơ, sẽ được đại nguyện
ấy làm cho như ư. Đặc biệt chữ sinh tử trong kinh này nói, ngoài
cái nghĩa tổng quát như bao nhiêu kinh điển khác, c̣n có cái nghĩa
rơ nhất là lúc sinh lúc chết, khi c̣n khi mất. Kinh này dạy rơ
thực hành như thế nào về 3 pháp hạnh th́ tiếp nhận được những ǵ
về ích lợi mà đại nguyện Địa tạng đại sĩ đem lại cho, trong lúc
sinh lúc chết và người c̣n kẻ mất. Do đó, khi cha mẹ hay thân nhân
đau ốm, khi sắp chết, khi chết và sau khi chết, kinh này kể rơ đại
nguyện Địa tạng đại sĩ tác thành hiếu niệm cho những người con
hiếu hạnh như thế nào, và dạy rơ cách thức mà những người con hiếu
hạnh có thể làm được để tiếp nhận sự tác thành ấy. Đó là đối với
lúc chết và người mất. Đối với lúc sinh và người c̣n, kinh này
càng rất quan tâm, bằng cách răn sự sát sinh, đề cao sự giúp đỡ
sản phụ, bịnh nhân và người già, lại chỉ dạy những sự cần thiết,
chỉ dạy cũng với thái độ nghiêm trọng.
Thứ ba, có một chi tiết quan trọng là
kinh này rất trọng thắng diệu lạc (sự yên vui tuyệt diệu) ở trong
nhân loại và chư thiên. Giải thoát, theo kinh này, là giải thoát
ác đạo (nhất là địa ngục) và giải thoát luân hồi. Con cá sa vào
ḍng nước có lưới, th́ thoát là thoát lưới và thoát cả ḍng nước.
Chỉ thoát lưới là thoát tạm, thoát rồi cũng có thể mắc lại. Phải
giải thoát cả lục đạo luân hồi mới là giải thoát vĩnh viễn, nếu
chỉ giải thoát ác đạo th́ thoát rồi cũng có thể đọa lại. Lư lẽ là
như vậy, nhưng cấp bách nhất vẫn là sự giải thoát ác đạo mà sinh
lên nhân thiên, hưởng thắng diệu lạc. Đó là điều kinh này đặc biệt
quan tâm. Điều ấy rất phù hợp với thái độ của Phật nói trước về
giới luận và thí luận mỗi khi thuyết pháp cho người mới đến.
Thứ tư, việc cảm động nhất và nổi
nhất của kinh này là do những điều trên, nhất là do đại nguyện, mà
Địa tạng đại sĩ được Phật đem chúng sinh tội khổ kư thác cho.
Không những như vậy, sự kư thác này, và kinh đại nguyện này của
Địa tạng đại sĩ, được Phật thực hiện và tuyên thuyết khi ngài lên
Đao lợi thuyết pháp cho mẹ, trước ngày nhập niết bàn. Như vậy,
chính việc đem chúng sinh kư thác cho Địa tạng đại sĩ, và việc nói
về đại nguyện của Địa tạng đại sĩ, là việc báo hiếu của Phật, đối
với mẹ và đối với chúng sinh. Quan trọng biết bao! Kinh này phổ
cập sâu rộng, chính là v́ điều này đây.
Với nội dung trên đây, trọng tâm kinh
Địa tạng là nói về đại nguyện của Địa tạng đại sĩ, nên Phật đă
mệnh danh là kinh bản nguyện, và dạy thọ tŕ cùng truyền bá theo
đại nguyện ấy. Mặt khác, kinh này nói giản dị, sự việc cần thiết
và gần gũi ḷng người, nhưng hạnh nguyện là hạnh nguyện thượng
thừa, và triết thuyết th́ cực kỳ viên đốn khi minh bạch nói rằng
cảnh vật cũng là hóa thân và toàn là tác dụng hóa độ. Cảm kích
nhất vẫn là việc kinh này được Phật nói lúc ngài thuyết pháp cho
mẹ để nhập niết bàn, lại nói về đại nguyện của một vị đại sĩ như
đức Địa tạng, và thiết tha đem chúng ta kư thác cho đại sĩ. Như
vậy, qua kinh Địa tạng, đức Địa tạng mới thật bất khả tư nghị.

III.
Nghi Thức Sám Nguyện Đơn Giản
Trước Khi Tŕ Tụng Kinh Địa Tạng
1. Phụng
thỉnh qui y
Nhất tâm phụng thỉnh và qui y đức
Phật bổn sư Thích ca mâu ni như lai, đức Phật đương lai Di lạc như
lai, cùng Phật, Phật pháp và Tỷ kheo tăng khắp cả pháp giới.
Nhất tâm phụng thỉnh và qui y đức
Phật bổn tôn A di đà như lai, cùng Quan thế âm bồ tát, Đại thế chí
bồ tát, Thanh tịnh đại hải chúng bồ tát ở quốc độ Cực lạc.
Nhất tâm phụng thỉnh và qui y đức đại
bi đại nguyện đại định đại lực Địa tạng bồ tát, cùng Bồ tát, Duyên
giác và Thanh văn khắp cả pháp giới.
2. Tác bạch
tâm nguyện
Đệ tử tên họ XX , pháp danh XX,
nguyện v́ cầu siêu cho XX, cầu an cho XX (4) , và cầu nguyện cho
bản thân, cho người thân kẻ thù trong đời này và bao nhiêu kiếp
khác, cho hết thảy Tăng ni Phật tử, cho mọi người và mọi loài, mà
chí thành lễ bái và tŕ tụng kinh Địa tạng bản nguyện. Ngưỡng
nguyện Tam bảo vô thượng và Địa tạng đại sĩ từ bi chứng minh,
nhiếp thọ hộ tŕ, làm cho người c̣n kẻ mất đều được siêu thoát, an
lạc.
3. Lễ bái
chư Phật bồ tát
Kính lạy đức Phật bổn sư Thích ca mâu
ni như lai, đức Phật đương lai Di lạc như lai, cùng hết thảy chư
Phật như lai trong pháp hội tuyên thuyết kinh Địa tạng và trong
th́ hiện tại khắp các quốc độ mười phương.
Kính lạy đức Sư tử phấn tấn cụ túc
vạn hạnh như lai, đức Giác hoa định tự tại vương như lai, đức Nhất
thế trí thành tựu như lai, đức Thanh tịnh liên hoa mục như lai,
cùng hết thảy chư Phật như lai trong th́ quá khứ khắp các quốc độ
mười phương.
Kính lạy đức Vô biên thân như lai,
đức Bảo tánh như lai, đức Ba đầu ma thắng như lai, đức Sư tử hống
như lai, đức Bảo thắng như lai, đức Bảo tướng như lai, đức Ca sa
tràng như lai, đức Đại thông sơn vương như lai, đức Tịnh nguyệt
như lai, đức Sơn vương như lai, đức Trí thắng như lai, đức Tịnh
danh vương như lai, đức Trí thành tựu như lai, đức Vô thượng như
lai, đức Diệu thanh như lai, đức Măn nguyệt như lai, đức Nguyệt
diện như lai, cùng chư Phật như lai nhiều đến số lượng không thể
nói hết.
Kính lạy đức Tỳ bà thi như lai, đức
Thi khí như lai, đức Tỳ xá phù như lai, đức Câu lưu tôn như lai,
đức Câu na hàm mâu ni như lai, đức Ca diếp như lai, đức Thích ca
mâu ni như lai, đức Di lạc như lai, cùng hết thảy chư Phật như lai
trong ba th́ quá khứ hiện tại và vị lai của quốc độ Sa bà.
Kính lạy đức Vô tướng như lai, cùng
hết thảy chư Phật như lai trong th́ vị lai khắp các quốc độ mười
phương.
Kính lạy Văn thù sư lợi bồ tát, Tài
thủ bồ tát, Định tự tại vương bồ tát, Vô tận ư bồ tát, Giải thoát
bồ tát, Phổ hiền bồ tát, Phổ quảng bồ tát, Quan thế âm bồ tát, Hư
không tạng bồ tát, cùng hết thảy bồ tát đại sĩ ở quốc độ Sa bà và
khắp các quốc độ mười phương.
4. Lễ bái
Địa tạng đại sĩ
Kính lạy đức Địa tạng, vị đại sĩ đại
bi đại nguyện đại định đại lực, được Phật đem chúng sinh kư thác.
Kính lạy đức Địa tạng, vị đại sĩ đại
bi đại nguyện đại định đại lực, thị hiện h́nh tướng xuất gia để
tiêu biểu và hộ tŕ cho người xuất gia tiếp nối ḍng giống Tam
bảo, cho giới pháp của người xuất gia, cho chánh pháp giải thoát
của toàn bộ Phật pháp.
Kính lạy đức Địa tạng, vị đại sĩ đại
bi đại nguyện đại định đại lực, tế độ bốn chúng đệ tử của Phật
bằng cách làm tăng trưởng bạch pháp giải thoát, tăng trưởng cây
trái thực phẩm và dược phẩm, tăng trưởng đất nước gió lửa, để ḍng
giống Tam bảo trường tồn, rực rỡ và uy đức.
Kính lạy đức Địa tạng, vị đại sĩ đại
bi đại nguyện đại định đại lực, tế độ chúng sinh bằng cách giữ ǵn
cơi đất to lớn, làm cho cây trái thực phẩm và dược phẩm đầy đủ
chất lượng, để chúng sinh tùy ư hưởng dụng.
Kính lạy đức Địa tạng, vị đại sĩ đại
bi đại nguyện đại định đại lực, phân hóa thân không biên cương ra
làm đủ loài đủ giống, làm cả cảnh vật, lợi ích khắp cả, ai cũng
được độ thoát.
Kính lạy đức Địa tạng, vị đại sĩ đại
bi đại nguyện đại định đại lực, ứng hóa khắp nơi, đặc biệt ứng hóa
trong địa ngục, trong châu Diêm phù, trong những quốc độ không có
Phật xuất hiện, trong những quốc độ có Phật xuất hiện nhưng thuộc
thời kỳ ngũ trược tam tai, thời kỳ cách hở giữa 2 đức Phật mà Phật
pháp không c̣n.
Kính lạy đức Địa tạng, vị đại sĩ đại
bi đại nguyện đại định đại lực, ích lợi cho cả lúc tạo tác nguyên
nhân và lúc hưởng chịu kết quả, cho cả người c̣n kẻ mất, cho cả
lúc sinh lúc chết, tác thành hiếu đạo cho những người con hiếu
hạnh.
Kính lạy đức Địa tạng, vị đại sĩ đại
bi nguyện và đại tinh tiến quá hơn các vị bồ tát, phó cảm hết thảy
sở cầu như pháp của tất cả những người chí tâm xưng niệm.
5. Sám
nguyện hồi hướng
-
Đệ tử
chúng con
-
tuy được
thân người,
-
nhưng lại
tách rời
-
chánh tín
chánh kiến,
-
tách rời
bạn tốt
-
chỗ tốt
thời tốt.
-
Không
biết tùy hỷ
-
không
tuân giới luật.
-
Xúc phạm
các vị xuất gia
-
trở ngại
chánh pháp giải thoát.
-
Tự phong
đại thừa
-
phỉ báng
thanh văn.
-
Lợi dụng
xuất gia
-
phá người
xuất gia,
-
ỷ thế thế
quyền
-
phá Tăng
thanh tịnh,
-
phá mọi
chánh pháp
-
của cả
tam thừa.
-
Tự gây vô
số ác nghiệp
-
tự tạo vô
lượng khổ báo.
-
Ngày nay
chúng con
-
ḷng rất
hăi sợ,
-
phát lộ
sám hối
-
dứt sự
tiếp tục.
-
Chân
thành tùy hỷ
-
công đức
của người,
-
nỗ lực
bền chí
-
tu tập
bạch pháp.
-
Học đại
bi nguyện
-
tập đại
tinh tiến.
-
Tuân giữ
giới pháp
-
hộ tŕ
Tăng bảo,
-
hộ tŕ
chánh pháp
-
thuận với
giải thoát,
-
làm cho
ḍng giống
-
Tam bảo
vô thượng
-
tồn tại
lâu dài
-
rực rỡ uy
đức.
-
Ngưỡng
nguyện chư Phật
-
đại từ
thế tôn,
-
ngưỡng
mong Địa tạng
-
định lực
đại sĩ,
-
từ bi
nhiếp thọ
-
hộ tŕ
chúng con.
-
Làm cho
chúng con
-
thường
gặp thiện hữu,
-
chừa tội
phá giới
-
bỏ lỗi
phá pháp,
-
tịnh trừ
hắc nghiệp
-
siêu
thoát u minh,
-
hiến cúng
Tam bảo
-
phục vụ
Phật pháp.
-
Nguyện
cầu người c̣n kẻ mất
-
ước mong
người thân kẻ thù
-
đồng được
siêu thoát
-
đồng được
an lạc,
-
thể hiện
từ tâm
-
hỷ xả với
nhau,
-
đời đời
kiếp kiếp
-
không rời
Tam bảo,
-
cùng nhau
kết thành
-
bà con
Phật pháp,
-
cùng nhau
đạt đến
-
tuệ giác
vô thượng.
Kính lạy đức Phật bổn sư Thích ca mâu
ni như lai, đức Phật đương lai Di lạc như lai, cùng Phật, Phật
pháp, Tỷ kheo tăng khắp cả pháp giới.
Kính lạy đức Phật bổn tôn A di đà như
lai, cùng Quan thế âm bồ tát, Đại thế chí bồ tát, Thanh tịnh đại
hải chúng bồ tát ở quốc độ Cực lạc.
Kính lạy đức đại bi đại nguyện đại
định đại lực Địa tạng bồ tát, cùng Bồ tát, Duyên giác và Thanh văn
khắp cả pháp giới.
CHÚ THÍCH:
(*): Trích Phần Dẫn Nhập cho Bản dịch Kinh Địa Tạng của HT Trí
Quang.